Tài liệu Giáo dục địa phương Lớp 8 (Tỉnh Hà Tĩnh)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Giáo dục địa phương Lớp 8 (Tỉnh Hà Tĩnh)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
tai_lieu_giao_duc_dia_phuong_lop_8_tinh_ha_tinh.pdf
Nội dung tài liệu: Tài liệu Giáo dục địa phương Lớp 8 (Tỉnh Hà Tĩnh)
- UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGUYỄN QUỐC ANH (Tổng Chủ biên) − PHẠM QUỲNH (Chủ biên) VƯƠNG TRỌNG ĐỨC − NGUYỄN THỊ NGỌC HÀ – LƯƠNG MINH TÂN NGUYỄN THỊ TRANG THANH − NGUYỄN THỊ THU THUỶ – TRẦN THÁI TOÀN TÀI LIỆU GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG TỈNH Hà Tĩnh LỚP 8 PB 1
- HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TÀI LIỆU MỞ ĐẦU − Xác định nhiệm vụ, vấn đề học tập học sinh cần giải quyết. – Kết nối với những điều học sinh đã biết. – Nêu vấn đề nhằm kích thích tư duy, tạo hứng thú đối với bài học. HÌNH THÀNH KIẾN THỨC Cung cấp thông tin liên quan đến chủ đề và các hoạt động học tập, giúp học sinh khai thác, chiếm lĩnh kiến thức mới. LUYỆN TẬP Gồm các câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ, hoạt động để củng cố, rèn luyện các kĩ năng gắn với kiến thức vừa học. VẬN DỤNG − MỞ RỘNG Sử dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết các tình huống trong thực tiễn, liên hệ mở rộng để xử lí các vấn đề liên quan gắn với địa phương. 2
- LỜI NÓI ĐẦU Các em học sinh lớp 8 yêu quý! Trên tay các em là cuốn Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Hà Tĩnh lớp 8. Cuốn tài liệu gồm 8 chủ đề, với các nội dung xoay quanh truyền thống, lịch sử, văn hoá, kinh tế, xã hội, môi trường,... của tỉnh Hà Tĩnh. Dưới sự hướng dẫn của thầy, cô giáo và sự đồng hành của người thân, bạn bè, các em hãy tích cực tìm hiểu, trải nghiệm để hiểu biết thêm về nơi mình sinh sống, đồng thời thêm yêu và gắn bó với quê hương. Chúc các em có những giờ học, hoạt động thật vui vẻ và bổ ích! Cuốn tài liệu sẽ đồng hành cùng các em trong suốt năm học lớp 8, hãy yêu quý và giữ gìn cẩn thận nhé! CÁC TÁC GIẢ 3
- MỤC LỤC Trang Hà Tĩnh trong phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX – Chủ đề 1 5 đầu thế kỉ XX Chủ đề 2 Hoạ sĩ Hà Tĩnh với mĩ thuật Việt Nam hiện đại 10 Chủ đề 3 Văn hoá các vùng miền ở Hà Tĩnh 16 Âm nhạc trong nghi lễ và lễ hội truyền thống ở Chủ đề 4 26 Hà Tĩnh Chủ đề 5 Những vấn đề về dân số ở Hà Tĩnh 30 Chủ đề 6 Đô thị hoá ở Hà Tĩnh 37 Chủ đề 7 Công tác an sinh xã hội ở Hà Tĩnh 41 Ô nhiễm môi trường các khu dân cư và biện pháp Chủ đề 8 49 giảm thiểu 4
- HÀ TĨNH TRONG Chủ đề 1 PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CUỐI THẾ KỈ XIX – ĐẦU THẾ KỈ XX Mục tiêu bài học: – Trình bày được một số phong trào yêu nước ở Hà Tĩnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX như phong trào Cần vương, phong trào yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh; – Nêu được đóng góp của Hà Tĩnh trong phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX. Quan sát hình 1.1 và cho biết hình ảnh này gợi nhớ đến sự kiện lịch sử nào. Hình 1.1. Tượng đài Phan Đình Phùng và nghĩa quân tại huyện Vũ Quang Trong phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, nhân dân Hà Tĩnh đã tích cực hưởng ứng phong trào Cần vương, phong trào yêu nước do Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh lãnh đạo, 5
- 1 Hà Tĩnh trong phong trào Cần vương (1885 – 1896) Năm 1885, sau khi Chiếu Cần vương được ban ra, nhiều văn thân, sĩ phu cùng các tầng lớp nhân dân Hà Tĩnh đã nhất loạt hưởng ứng. Phong trào đấu tranh ở Hà Tĩnh đặt dưới sự lãnh đạo của Phan Đình Phùng, Cao Thắng, Lê Ninh, Nguyễn Duy Chanh (Đốc Chanh), Nguyễn Duy Trạch (Đốc Trạch), Phan Cát Lu (huyện Đức Thọ), Nguyễn Duy Trạch, Nguyễn Tuyển (huyện Can Lộc), Đinh Nho Hành (huyện Hương Sơn), Nguyễn Cao Đồn (huyện Thạch Hà), Theo thời gian, phong trào lan rộng ra khắp tỉnh hình thành các quân thứ như Khê thứ, Nghi thứ, và phát triển thành cuộc khởi nghĩa Hương Khê Hình 1.2. Phan Đình Phùng – cuộc khởi nghĩa lớn nhất và tiêu biểu nhất trong phong trào Cần vương chống Pháp. EM CÓ BIẾT? Cuộc khởi nghĩa bắt đầu bùng nổ ở vùng rừng núi Hương Khê (tỉnh Hà Tĩnh) dưới sự lãnh đạo của Phan Đình Phùng. Ở Hà Tĩnh, Phan Đình Phùng đã cho xây dựng 4 căn cứ chính: Cồn Chùa (huyện Hương Sơn), Thượng Bồng – Hạ Bồng (huyện Đức Thọ), Trùng Khê – Trí Khê (huyện Hương Khê), Vũ Quang (huyện Hương Khê), trong đó lớn nhất là căn cứ Vũ Quang. Căn cứ Vũ Quang nằm ở phía tây huyện Hương Khê, có địa hình hiểm trở, tựa lưng vào dãy Trường Sơn. Từ đây, nghĩa quân có thể theo đường núi vào Quảng Bình, Quảng Trị, ra Nghệ An, Thanh Hoá hay theo đường sông đi xuống các vùng đồng bằng hoặc khi cần thiết có thể lánh sang nước Lào. Cuộc khởi nghĩa đã thu hút nhiều anh hùng hào kiệt tham gia như: Phan Trọng Mưu, Phan Quảng Cư, Ấm Ninh (Lê Ninh),... và rất nhiều chỉ huy xuất thân từ nhân dân lao động nghèo khổ như Cao Thắng, Nguyễn Chanh, Nguyễn Trạch, Lê Văn Tạc, Phan Đình Can, Phan Đình Phong, Nguyễn Mục, Phan Bá Niên,... Từ huyện Hương Khê, địa bàn hoạt động của nghĩa quân đã lan rộng ra bốn tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Cuộc khởi nghĩa kéo dài hơn 10 năm (1885 – 1896) chia thành hai giai đoạn chính. Giai đoạn 1885 – 1888 là giai đoạn nghĩa quân tổ chức, huấn luyện, xây 6 7
- dựng công sự, rèn đúc vũ khí và tích trữ lương thảo. Giai đoạn 1888 – 1896 là thời kì chiến đấu của nghĩa quân. Nghĩa quân đã phối hợp và hoạt động mạnh trên một vùng rộng lớn ở huyện Diễn Châu, Yên Thành, Thanh Chương, Nghi Lộc (tỉnh Nghệ An),... tổ chức được 28 trận đánh lớn nhỏ, đánh trả, khiêu khích quân Pháp, tập kích và chống càn quét. Nghĩa quân giành nhiều chiến thắng lớn, gây cho Pháp nhiều tổn thất. EM CÓ BIẾT? Nhiều trận đánh lớn đã diễn ra như trận tấn công đồn Trường Lưu (tháng 5/1890); trận tập kích thị xã Hà Tĩnh, phá được nhà lao và giải phóng hơn 700 tù chính trị (tháng 8/1892); trận phục kích địch ở núi Vũ Quang (17/10/1894); Phan Đình Phùng đã dùng kế “Sa nang úng thuỷ” tập hợp lực lượng, đánh một trận lớn khiến cho đối phương thiệt hại rất nhiều vũ khí và giết được nhiều tên địch, trong đó có 3 sĩ quan người Pháp. “Sa nang úng thuỷ” (túi cát ngăn sông) là kế sách dựa vào địa hình sông núi để dụ giặc. Phan Đình Phùng cho quân lên tận nguồn sông chặt cây đóng kè chặn nước lại, đồng thời chuẩn bị sẵn nhiều khúc gỗ lớn. Khi quân Pháp đến giữa dòng sông, thì ông cho phá kè trên nguồn và tuôn cây xuống. Đối phương phần bị nước cuốn, phần bị cây lao vào người, lại bị nghĩa quân ở hai bên bờ xông ra đánh nên thương vong rất nhiều. Trong một trận giao tranh ác liệt, Phan Đình Phùng bị thương nặng rồi hi sinh vào ngày 28/12/1895. Những thủ lĩnh khác của nghĩa quân một phần bị tử trận, một phần không chịu được điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, một phần bị bắt và bị giết. Cuộc khởi nghĩa Hương Khê tan rã vào năm 1896. Mặc dù thất bại nhưng khởi nghĩa Hương Khê vẫn là đỉnh cao của phong trào Cần vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX và kéo dài suốt hơn 10 năm từ năm 1885 – 1896. Đây là cuộc khởi nghĩa có quy mô rộng lớn, được tổ chức tương đối chặt chẽ, lập được nhiều chiến công và gây cho quân Pháp tổn thất nặng nề. ? 1. Kể tên một số nhân vật tiêu biểu trong phong trào Cần vương ở Hà Tĩnh. 2. Nêu một số nét chính về cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1885 – 1896). 2 Hà Tĩnh trong phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX Đầu thế kỉ XX, dưới ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài cùng tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, phong trào yêu nước chống Pháp 6 7
- ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ theo khuynh hướng dân chủ tư sản với hai xu hướng: bạo động của Phan Bội Châu và cải cách của Phan Châu Trinh. Nhân dân Hà Tĩnh tích cực hướng ứng phong trào yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, đặc biệt là phong trào chống thuế ở Trung Kỳ (1908). Phong trào chống sưu thuế nổ ra trước tiên ở Quảng Nam, lan rộng ra các tỉnh Nam Trung Kỳ, rồi nhanh chóng qua các tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Trị và đến Hà Tĩnh. Ở Hà Tĩnh, những người lãnh đạo chủ chốt của phong trào là Nguyễn Hàng Chi (huyện Can Lộc), Trịnh Khắc Lập (huyện Nghi Xuân), Lê Văn Huân, Phạm Văn Ngôn, Lê Văn Cẩn (huyện Đức Thọ), Nguyễn Duy Phương (huyện Hương Khê), Phong trào diễn ra sôi nổi ở các huyện Can Lộc, Nghi Xuân, Đức Thọ, EM CÓ BIẾT? Ở huyện Can Lộc, nhân dân các tổng Phù Lưu Nội, Canh Hoạch, Vĩnh Luật, đã tập hợp tại xã Ích Hậu kéo lên huyện, rồi lên tỉnh. Cuộc biểu tình có đến năm sáu trăm người do Nguyễn Hàng Chi dẫn đầu. Đến thị xã, đoàn kéo thẳng vào dinh Tuần Vũ để chất vấn đại diện Nam triều và đòi giảm thuế. Nguyễn Hàng Chi (1884 – 1908) người xã Ích Hậu, huyện Can Lộc, là người thông minh, có chí khí và giàu lòng yêu nước. Khi phong trào chống thuế ở Quảng Nam lan ra đến Hà Tĩnh, ông đã bắt liên lạc với bạn bè sĩ phu trong tỉnh bàn kế hoạch cổ động nhân dân đứng lên đấu tranh. Ông giả làm người bán quế, đi nhiều nơi trong tỉnh liên lạc với các hội viên Hội Duy tân và phân phát tờ "Thông tri" kêu gọi nhân dân đứng lên đòi bỏ sưu thuế. Bản “Thông tri” được truyền bá rộng rãi đã dấy lên một phong trào sôi nổi trong toàn tỉnh. Tại huyện Nghi Xuân, phong trào chống thuế do Trịnh Khắc Lập lãnh đạo. Ngày 22/5/1908, ông đã có cuộc diễn thuyết ngay giữa buổi họp chợ Giang Đình kêu gọi đồng bào hưởng ứng tờ "Thông tri" của Nguyễn Hàng Chi. Sáng hôm sau, 23/5/1908, ông cùng Trịnh Yên, Trịnh Xuyên, Phan Chiêu, Phan Cẩn, dẫn hơn 200 người kéo đến huyện đường bắt trói Tri huyện Lê Trần Thụy giải về tỉnh kêu sưu. Đoàn người đi đến Cồn Đống (nay là xã Thiên Lộc) thì gặp toán lính của Ba-bút. Ba-bút giả vờ chấp nhận yêu sách, mời đại diện của dân về huyện giải quyết, rồi trở mặt, bắt Trịnh Khắc Lập và những người cầm đầu. Phong trào chống thuế ở huyện Nghi Xuân tan rã. Ở Đức Thọ, đông đảo nhân dân làng Đông Thái, Yên Vượng, Trung Lễ, đã theo các sĩ phu kéo vào thị xã đòi giảm sưu thuế. Ở các huyện khác như Hương Khê, Hương Sơn, Cẩm Xuyên đều có biểu tình sôi nổi kéo dài từ tháng 3 đến tháng 5/1908. 8 9
- Trước sức mạnh đấu tranh của quần chúng, thực dân Pháp và phong kiến Nam triều lúc đầu lúng túng, nhưng ngay sau đó đã thẳng tay đàn áp. Nguyễn Hàng Chi và Trịnh Khắc Lập bị kết án tử hình. Nhiều sĩ phu tham gia phong trào như Lê Văn Huân, Nguyễn Duy Phương, Phạm Văn Ngôn, bị đày ra Côn Đảo. ? Nêu những nét chính của phong trào yêu nước ở Hà Tĩnh đầu thế kỉ XX. 1. Hoàn thành bảng tìm hiểu về một số nét chính của phong trào yêu nước ở Hà Tĩnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX. STT Tên phong trào Một số nét chính Kết quả 1 Phong trào Cần vương 2 Phong trào chống thuế ở Trung kỳ 2. Nêu đóng góp của Hà Tĩnh trong phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX. 1. Sưu tầm tranh ảnh, tư liệu về cuộc khởi nghĩa Hương Khê ở Hà Tĩnh. 2. Giới thiệu một di tích lịch sử tiêu biểu trong phong trào yêu nước ở Hà Tĩnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX. 8 9
- Chủ đề 2 HOẠ SĨ HÀ TĨNH VỚI MĨ THUẬT VIỆT NAM HIỆN ĐẠI Mục tiêu bài học: – Nêu được tên của một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu của hoạ sĩ nổi tiếng người Hà Tĩnh; – Mô phỏng được một tác phẩm của hoạ sĩ nổi tiếng người Hà Tĩnh; – Giới thiệu và chia sẻ được về một tác phẩm của hoạ sĩ người Hà Tĩnh trong bối cảnh mĩ thuật Việt Nam. 1. Quan sát hình 2.1, hãy cho biết những thông tin về bức tranh và hoạ sĩ sáng tác. Hình 2.1. Tác phẩm “Chơi ô ăn quan” của hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh 2. Kể tên một số hoạ sĩ người Hà Tĩnh mà em biết. 3. Hãy cho biết các hoạ sĩ người Hà Tĩnh đã sáng tác trên những chất liệu nào. 10
- Tìm hiểu một số hoạ sĩ tiêu biểu người Hà Tĩnh Hà Tĩnh là tỉnh có bề dày về mĩ thuật truyền thống, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các hoạ sĩ Hà Tĩnh đã đóng góp nhiều sáng tác mĩ thuật vào phong trào cổ động, tuyên truyền, có người đã hi sinh trong lúc làm nhiệm vụ. Trong những năm qua, lĩnh vực mĩ thuật của tỉnh Hà Tĩnh đã có những bước phát triển mới, đóng góp cho nền mĩ thuật Việt Nam hiện đại. Mĩ thuật Hà Tĩnh có các loại hình như hội hoạ, đồ hoạ, điêu khắc, thiết kế mĩ thuật và ngày càng đa dạng về phong cách và chất liệu thể hiện, mở rộng về đề tài, từng bước hội nhập với mĩ thuật khu vực. Hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh Hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh (1892 – 1984) quê ở thôn Tiền Bạt, xã Trung Tiết, huyện Thạch Hà, nay là phường Tân Giang, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh lấy bút danh là Hồng Nam. Chất liệu chính trong các tác phẩm của hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh là lụa. Chủ đề chính là người nông dân, đặc biệt là phụ nữ nông dân và trẻ em. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông như: Em bé bên chú chim, Người bán ốc, Thợ nhuộm, Người bán gạo, Chơi ô ăn quan, Người hát rong, Hầu đồng, Cô gái hát ví dặm, Bữa cơm mùa thắng lợi, Vườn trẻ, Lớp mẫu giáo, Cô hàng xén, Đám rước,... Ông được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhất và được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 năm 1996. Hình 2.2. Hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh bên tác phẩm "Chơi ô ăn quan" 11
- Hoạ sĩ, nhà giáo Lê Huy Hoà Hoạ sĩ Lê Huy Hoà (1932 – 1996) sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống nghệ thuật ở huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là giảng viên Đại học Mĩ thuật Công nghiệp Hà Nội. Trong nền hội hoạ Việt Nam hiện đại, Lê Huy Hoà đã có một dấu ấn riêng. Một số tác phẩm nổi tiếng của ông như: Thư Bác Hồ gửi Miền Nam, Kiều – Kim Trọng, Tố Nữ, Thiếu nữ Hà Nội, Phong cảnh miền núi, Khát vọng, Tắm tất niên, Hồ Xuân Hương, Đánh đàn, Tĩnh vật và hoa, Bài ca về ngã ba Đồng Lộc, Ông được truy tặng giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2012. Hoạ sĩ Trần Hữu Chất Hoạ sĩ Trần Hữu Chất sinh ngày 10/7/1933 tại xã Kỳ Châu, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Ông có bút danh là Hồng Chinh Hiền. Hoạ sĩ Trần Hữu Chất tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mĩ thuật Việt Nam. Ông chuyên về chất liệu sơn mài, nhất là sơn khắc, đề tài chính trong sáng tác của ông là chiến tranh cách mạng, văn hoá các dân tộc thiểu số hoặc lễ hội ở các vùng miền khác nhau, với đường nét đồ hoạ tinh tế và màu sắc rực rỡ. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông như: Mùa xuân trên Tây Nguyên, Lễ hội người Chăm, Múa rối nước, Lễ đâm trâu Tây Nguyên, Phiên chợ miền núi,... Ông được nhận giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2012, Huy chương vì sự nghiệp Mĩ thuật Việt Nam. Hoạ sĩ Trần Khánh Chương Hoạ sĩ Trần Khánh Chương (1943 – 2020) quê ở xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1963, ông tốt nghiệp khoa gốm, Trường Mĩ thuật Công nghiệp Hà Nội. Năm 1975, ông tốt nghiệp Đại học Mĩ thuật Hà Nội. Ông từng giữ chức Chủ tịch Hội Mĩ thuật Việt Nam giai đoạn 1999 – 2019; Phó Chủ tịch Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam giai đoạn 2000 – 2010. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông như: Màu xanh trên vùng đất đỏ, Đường lên Điện Biên, Ngày vui giải phóng, Những cánh diều, Bên cầu Thê Húc, Nhịp thời gian, Trưa Cửa Tùng,... Ông được nhận giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007. Hình 2.3. Hoạ sĩ Trần Khánh Chương 12 13
- Hoạ sĩ, nghệ sĩ nhân dân Lê Huy Quang Hoạ sĩ, nghệ sĩ nhân dân Lê Huy Quang (1944 – 2023) quê ở huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Ông tốt nghiệp lớp Trung cấp và Cao đẳng Mĩ thuật, Trường Nghệ thuật Hà Nội và Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông như: Tam Bạc Hải Phòng; Chân dung; Chùa Hương; Mái phố tuổi thơ; Mùa xuân; Tóc quê I, II, III; Ký ức Hà Nội;... Ông được nhận Huy chương vì sự nghiệp Sân khấu Việt Nam, Huy chương vì sự nghiệp Múa Việt Nam, Huy chương vì sự nghiệp Văn hoá Việt Nam, Huy chương vì sự nghiệp Văn học – Nghệ thuật Việt Nam, Bằng khen của Thủ tướng Chính Phủ. Hoạ sĩ, nhà giáo Võ Tá Hùng Hoạ sĩ, nhà giáo Võ Tá Hùng sinh ngày 10/02/1955 tại xã Thanh Bình Thịnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông tốt nghiệp chuyên ngành Hội hoạ Hoành tráng, Trường Đại học Mĩ thuật Công nghiệp Hà Nội. Ông nguyên là Trưởng khoa Trang trí nội ngoại thất, Trường Đại học Mĩ thuật Công nghiệp Hà Nội. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông như: Góc quê, Ngày mùa, Đê làng, Biển vắng, Làng ven sông,... Hoạ sĩ Võ Tá Hùng đạt giải Nhất mẫu logo ASEAN lần thứ 40 năm 2007, ông được nhận Huy chương vì sự nghiệp Mĩ thuật Việt Nam. Hình 2.4. Hoạ sĩ, nhà giáo Võ Tá Hùng Hoạ sĩ Nguyễn Thọ Tường Hoạ sĩ Nguyễn Thọ Tường sinh ngày 17/10/1957 tại huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Ông tốt nghiệp trường Đại học Mĩ thuật Việt Nam. Ông là hội viên Hội Mĩ thuật Việt Nam, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông như: Quán thiền quang, Ánh sáng lòng đất mẹ, Mắt chiến tranh, Những người mở đường hầm, Ông được nhận Huy chương vì sự nghiệp Mĩ thuật Việt Nam. 12 13
- Hoạ sĩ, nhà điêu khắc Phạm Xuân Sinh Họa sĩ, nhà điêu khắc Phạm Xuân Sinh sinh ngày 25/8/1958 tại xã Phúc Đồng, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Ông tốt nghiệp trường Đại học Mĩ thuật Công nghiệp Hà Nội, là hội viên Hội Mĩ thuật Việt Nam. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông như: Màu xanh tình yêu, Chiến tranh đi qua, Nỗi đau chiến tranh, Tưởng niệm về một con đường, Mẫu tử, Ông đạt huy chương Đồng Triển lãm Mĩ thuật toàn quốc năm 1990, giải Ba trong triển lãm về đề tài lực lượng vũ trang năm 2002. ? 1. Kể tên một số hoạ sĩ tiêu biểu người Hà Tĩnh. Nêu đóng góp của hoạ sĩ người Hà Tĩnh với nền mĩ thuật Việt Nam. 2. Tìm hiểu và chia sẻ về một tác phẩm nổi tiếng của hoạ sĩ người Hà Tĩnh. Gợi ý: – Tác phẩm về đề tài gì? Chất liệu gì? – Bố cục của tác phẩm có gì đặc biệt? – Màu sắc trong tác phẩm được thể hiện như thế nào? – Thủ pháp kĩ thuật thông qua hình ảnh, màu sắc, không gian có đặc điểm gì? Lập bảng tìm hiểu về hoạ sĩ người Hà Tĩnh theo gợi ý sau: STT Tên hoạ sĩ Quê quán Phong cách sáng tác Tác phẩm tiêu biểu 14 15
- 1. Cùng bạn mô phỏng một tác phẩm của hoạ sĩ Hà Tĩnh bằng những nguyên vật liệu sẵn có. – Chuẩn bị: Giấy, đất nặn, bút chì, bút màu, màu nước,... – Các bước tiến hành: + Bước 1: Lựa chọn một tác phẩm của hoạ sĩ Hà Tĩnh mà em yêu thích. + Bước 2: Vẽ phác hoạ bằng bút chì các chi tiết bố cục, hình ảnh nhân vật, bối cảnh trên giấy. + Bước 3: Lựa chọn các vật liệu sẵn có và thể hiện các chi tiết. 2. Đóng vai nhà tổ chức triển lãm, giới thiệu về một số tác phẩm của hoạ sĩ Hà Tĩnh và những sản phẩm mô phỏng tranh đã làm. 14 15
- Chủ đề 3 VĂN HOÁ CÁC VÙNG MIỀN Ở HÀ TĨNH Mục tiêu bài học: – Nhận diện được đặc điểm văn hoá các vùng miền ở Hà Tĩnh; – Phân tích được các yếu tố nổi trội trong văn hoá các vùng miền ở Hà Tĩnh; – Đề xuất được một số giải pháp giữ gìn và phát huy sự đa dạng trong văn hoá các vùng miền ở Hà Tĩnh. Quan sát hình 3.1, 3.2, 3.3, kết hợp với sự hiểu biết của bản thân, em hãy: a. Nêu ấn tượng ban đầu của em về văn hoá các vùng miền ở Hà Tĩnh. b. Em đang sống ở vùng nào? Hãy chia sẻ cảm nhận về nơi em sống. Hình 3.1. Chùa Chân Tiên, xã Thịnh Lộc, Hình 3.2. Ngư dân xã Cương Gián, huyện Lộc Hà huyện Nghi Xuân kéo lưới đánh cá Hình 3.3. Lễ hội Tết Lấp lỗ của đồng bào dân tộc Chứt, huyện Hương Khê 16 17
- Hà Tĩnh có địa hình đa dạng gồm vùng núi, trung du, đồng bằng và biển. Chính đặc tính xen kẽ, tiếp cận giữa núi, biển và đồng bằng đã tác động rõ rệt tới đời sống kinh tế, xã hội và văn hoá của cư dân, khiến cho vùng miền núi, đồng bằng và ven biển của Hà Tĩnh vừa mang các đặc điểm riêng biệt của mỗi vùng, lại vừa đan cài, gối kết lẫn nhau trong sự chi phối rõ rệt của văn hoá nông nghiệp lúa nước. 1 Văn hoá vùng đồng bằng Hà Tĩnh Đồng bằng ở Hà Tĩnh chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng diện tích tự nhiên, nhưng văn hoá vùng đồng bằng phong phú, đa dạng và độc đáo, có sự lan toả mạnh mẽ đến các vùng miền khác trong tỉnh. Vì thế, nhắc đến văn hoá vùng đồng bằng ở Hà Tĩnh, người ta không chỉ nhắc đến huyện Can Lộc, Đức Thọ, thị xã Hồng Lĩnh, thành phố Hà Tĩnh – những khu vực có yếu tố đồng bằng nổi trội hơn cả mà cả vùng phía tây của huyện Nghi Xuân, Lộc Hà, mạn giữa của huyện Kỳ Anh, các vùng thấp của huyện Hương Sơn, Hương Khê cũng có thể xếp vào văn hoá đồng bằng. Ở Hà Tĩnh, các vùng đồng bằng thường nhỏ hẹp vì không có đồng bằng châu thổ và bị các nhánh núi đâm ra biển xé lẻ, đất nghèo dinh dưỡng, vùng đất giáp biển lại hay bị nhiễm mặn. Tuy nhiên, từ lâu đời, các vùng đồng bằng nhỏ hẹp và kém phì nhiêu này là địa bàn trồng lúa và hoa màu của cư dân nơi đây. Đồng bằng Hà Tĩnh được các cư dân chinh phục từ hàng nghìn năm. Do vậy, nói tới văn hoá vùng đồng bằng Hà Tĩnh là nói tới một vùng văn hoá có bề dày lịch sử. Tại các huyện, thị ở vùng đồng bằng đều có các di tích khảo cổ, các di sản văn hoá phân bố với mật độ dày đặc như: di chỉ Thạch Lạc (huyện Thạch Hà), Tân Lâm Hương (huyện Thạch Hà), Thạch Đài (huyện Thạch Hà), Xuân Giang (huyện Nghi Xuân), Xuân Viên (huyện Nghi Xuân), Đức Đồng (huyện Đức Thọ), Hoà Lạc (huyện Đức Thọ), An Dũng (huyện Đức Thọ), ; chùa Hương Tích (huyện Can Lộc), chùa Chân Tiên (huyện Lộc Hà), chùa Hang (thị xã Hồng Lĩnh); đền Củi (huyện Nghi Xuân), đền Truông Bát (huyện Thạch Hà); đình Hội Thống (huyện Nghi Xuân); Cũng như cư dân của vùng châu thổ Bắc Bộ, người dân ở vùng đồng bằng Hà Tĩnh chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước và làm nông nghiệp thuần tuý. Cùng với cây lúa, ở đây còn có nhiều loại cây trồng phù hợp với chất đất từng vùng và khí hậu từng mùa như: đậu, lạc ở vùng Đức Thọ; khoai, sắn ở vùng Nghi Xuân; Các loại cây trồng này đã trở thành những sản vật nông nghiệp nổi tiếng của Hà Tĩnh. Mặt khác, do diện tích đất canh tác ở vùng đồng bằng ít, khí hậu khắc nghiệt, mỗi năm chỉ trồng được một vụ trong khi mật độ dân cư cao nên người nông dân đã làm thêm nghề thủ công để tận dụng thời gian nhàn rỗi của vòng quay mùa vụ. Đồ sắt Vân Chàng (thị xã Hồng Lĩnh), đồ gốm Cẩm Trang (huyện Vũ Quang), đồ đồng Đức Lâm 16 17
- (huyện Thạch Hà), lụa làng Hạ (huyện Đức Thọ), đồ mộc Thái Yên (huyện Đức Thọ), nghề rèn Trung Lương (thị xã Hồng Lĩnh), vải Hồ (huyện Đức Thọ), nón lá Đan Du (huyện Kỳ Anh), đã làm nên tên tuổi của nghề thủ công Hà Tĩnh. Do đó, những người thợ lành nghề của Hà Tĩnh cũng nổi danh ở nhiều địa phương trên cả nước. Hình 3.4. Nông dân huyện Can Lộc Hình 3.5. Làng nghề nón lá Đan Du, thu hoạch lúa vụ xuân xã Thư Kỳ, huyện Kỳ Anh Trên phương diện văn hoá vật chất, cư dân vùng đồng bằng Hà Tĩnh cũng đã tạo lập nên những đặc điểm riêng trên nền tảng chung của văn hoá Việt Nam. Gắn bó chặt chẽ với nghề nông trồng lúa nước, các phương diện văn hoá ăn, mặc, ở, đi lại, của cư dân đồng bằng Hà Tĩnh đều là ánh xạ của phương thức sản xuất này trong một bối cảnh môi trường tự nhiên cụ thể. Cơ cấu bữa ăn của người Hà Tĩnh với các thành phần quen thuộc của người Việt như thịt, rau, cá nhưng trong bữa ăn hằng ngày của người Hà Tĩnh hải sản chiếm tỉ lệ lớn hơn so với ở các vùng miền khác. Cách ăn, cách chế biến món ăn của người Hà Tĩnh cũng rất khác biệt, thường không ưa sự cầu kì, chế biến công phu mà chỉ thích những món ăn thô sơ, mộc mạc, “chặt to, kho mặn”. Cà và nhút – những thức ăn giúp người dân của vùng đất cằn cỗi vượt qua tháng ngày đói kém, được xem như một nét đặc trưng trong văn hoá của ẩm thực Hà Tĩnh. Đó là sự ghi dấu cách ứng xử với môi trường sống của những cư dân nghèo. Cũng trên nền tảng của điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và mong muốn gắn bó lâu dài với đất đai để sản xuất, cư dân đồng bằng Hà Tĩnh thường làm những ngôi nhà chắc chắn, kiên cố từ vật liệu tự nhiên, chủ yếu là kiểu nhà vì kèo không có chái. Cũng từ những tác động của môi trường tự nhiên, cư dân đồng bằng Hà Tĩnh đã sáng tạo cho mình một loại trang phục độc đáo là chiếc áo tơi làm từ lá cọ để che nắng, che mưa. Bên cạnh những yếu tố văn hoá vật chất, đời sống văn hoá tinh thần của cư dân vùng đồng bằng Hà Tĩnh cũng có nhiều điểm độc đáo. Trước hết, có thể kể đến sinh hoạt tín ngưỡng. Sinh sống ở nơi đất đai cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt, lại thường xuyên phải đối phó với kẻ thù từ bên ngoài, người dân Hà Tĩnh luôn mong ước một 18 19
- cuộc sống bình yên, phồn thịnh, mưa thuận gió hoà. Mong ước ấy được thể hiện trong hệ thống các tín ngưỡng: tín ngưỡng phồn thực cầu mong sự sinh sôi, nảy nở của hoa màu và con người; tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng cầu mong cho dân làng được yên ổn, phồn thịnh; tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc cầu mong cho đất đai, bờ cõi được bảo vệ khỏi kẻ thù; tín ngưỡng thờ Mẫu cầu mong sự bao bọc, chở che của các nữ thần; Đối tượng tôn thờ của mỗi hình thức tín ngưỡng khác nhau, nhưng điểm khởi đầu và đích đến của các tín ngưỡng này đều bắt nguồn từ chính đời sống của người dân nông nghiệp. Hình 3.6. Lễ tế Đức Thánh tổ nghề thợ rèn ở phường Trung Lương, thị xã Hồng Lĩnh Các sinh hoạt văn hoá, văn nghệ dân gian ở vùng đồng bằng Hà Tĩnh cũng rất phong phú. Tiêu biểu nhất là hát ví, hát giặm. Hát giặm đặc biệt thịnh hành ở huyện Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên với hai hình thức hát giặm nam nữ và hát giặm vè; còn hát ví thì phổ biến khắp xứ vì gắn với các ngành nghề được tổ chức thành phường. Quen thuộc nhất là ví phường gặt, phường nhổ mạ, phường cấy, phường đan, phường nón,... và nổi tiếng nhất là ví phường vải. Ví phường vải phổ biến nhất ở các vùng Can Lộc, Đức Thọ,... Hình thức sinh hoạt văn hoá, văn nghệ dân gian này không chỉ thu hút những người dân lao động mà còn có khả năng mời gọi những trí thức của vùng tham gia, tạo nên một dấu ấn độc đáo trong đời sống văn hoá tinh thần của người Hà Tĩnh. Hình 3.7. Liên hoan dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh, huyện Thạch Hà Cùng với văn hoá dân gian, vùng đồng bằng Hà Tĩnh còn có nền văn hoá bác học phát triển rực rỡ. Sự phát triển của giáo dục, truyền thống trọng người có học trở thành nhân tố tác động tạo nên sự phát triển này. Tên tuổi của các danh nhân như: Sử Hy Nhan, Nguyễn Xí, Bùi Cầm Hổ, Đặng Dung, Nguyễn Biểu, Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Tự, Bùi Dương Lịch, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Phan Chánh, Hoàng Ngọc Phách, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Đổng Chi, Xuân Diệu, Huy Cận, đã trở thành niềm tự hào không chỉ của riêng Hà Tĩnh mà còn vang danh cả nước. 18 19
- Tất cả những đặc trưng về văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần của vùng đồng bằng Hà Tĩnh được hình thành trên một vùng đất mà con người luôn phải đương đầu với sự khắc nghiệt của điều kiện môi trường và gánh nặng của đấu tranh xã hội. Điều đó đã đem lại những đặc trưng cho vùng đất này. Sự riêng biệt ấy là cơ sở tạo nên sự đa dạng và hấp dẫn về văn hoá của Hà Tĩnh. 2 Văn hoá vùng biển Hà Tĩnh Hà Tĩnh có đường bờ biển dài 137 km. Dọc theo bờ biển là các làng xã thuộc huyện Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên; thị xã Kỳ Anh. Đây là nơi hội tụ những yếu tố văn hoá miền biển của vùng đất Hà Tĩnh. Cũng như các làng biển khác ở Việt Nam, làng biển Hà Tĩnh trước đây có hai dạng cơ bản: bãi dọc và bãi ngang. Bãi dọc là các làng biển ở cạnh cửa sông, tức vừa gần sông vừa giáp biển, gọi là vùng “cửa lạch” như cửa Nhượng (huyện Cẩm Xuyên), cửa Sót (huyện Lộc Hà); bãi ngang là các làng chỉ giáp biển, nếu có con sông nào đi qua thì cũng là chạy song song với bờ biển theo hướng bắc nam chứ không theo hướng tây đông. Cư dân Hà Tĩnh cư trú dọc theo bờ biển và chọn nghề đánh bắt cá làm phương thức sinh tồn chủ yếu. Tuy nhiên, cũng giống như bao làng quê ven biển Việt Nam khác, yếu tố văn hoá nông nghiệp vẫn thể hiện đậm nét trong đời sống của cộng đồng này. Họ gắn bó với nghề trồng lúa, trồng hoa màu; những sản phẩm nông nghiệp được họ khéo léo sử dụng kết hợp với sản phẩm ngư nghiệp: muối mắm ruốc không thể thiếu thính được làm từ gạo rang, muối mắm cá không thể thiếu các loại gia vị quen thuộc như ớt, tỏi, sả, gừng, Xuất phát từ đặc điểm tự nhiên cụ thể, hoạt động đánh bắt cá của cư dân ven biển Hà Tĩnh gắn với cả khai thác hải sản lẫn thuỷ sản, kèm theo đó là các ngành nghề thủ công, nghề buôn bán đặc thù của người làng biển như sản xuất và buôn bán muối, nước mắm hay nghề chắp gai, đan lưới, đóng thuyền. Hoạt động thương nghiệp nổi bật của vùng biển Hà Tĩnh là buôn thuyền mành (vùng Cương Gián, Cẩm Nhượng). Thường mỗi làng có một vạn thuyền, mỗi vạn thuyền có khoảng vài ba chục thuyền, chủ yếu dùng để buôn nước mắm đến các đô thị như Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng. Hình 3.8. Ngư dân làng biển xã Kỳ Ninh, thị xã Kỳ Anh vận chuyển cá vào bờ 20 21

