Báo cáo chuyên đề Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học để phát triển phẩm chất năng lực học sinh ở môn Lịch sử và Địa lý 8 (Phân môn Lịch Sử)

pdf 10 trang LinhLan 06/06/2026 870
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo chuyên đề Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học để phát triển phẩm chất năng lực học sinh ở môn Lịch sử và Địa lý 8 (Phân môn Lịch Sử)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_chuyen_de_van_dung_mot_so_phuong_phap_ki_thuat_day_h.pdf

Nội dung tài liệu: Báo cáo chuyên đề Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học để phát triển phẩm chất năng lực học sinh ở môn Lịch sử và Địa lý 8 (Phân môn Lịch Sử)

  1. TRƯỜNG THCS CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM NAM NGUYỄN TUẤN THIỆN ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC TỔ KHOA HỌC XÃ HỘI -------------------------------- Phố Châu, ngày 16 tháng 9 năm 2023 BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ THÁNG 9 VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP, KĨ THUẬT DẠY HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT NĂNG LỰC HỌC SINH Ở MÔN LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÝ 8 ( PHÂN MÔN LỊCH SỬ) I. ĐẶT VẤN ĐỀ. 1. Thuận lợi - Được sự quan tâm, chỉ đạo của Sở, Phòng giáo dục... thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn, chuyên đề thay sách, dạy thể nghiệm trao đổi, rút kinh nghiệm về đổi mới phương pháp dạy học. - Được sự chỉ đạo, quan tâm sát sao và kịp thời của BGH, với những kế hoạch cụ thể, kịp thời để GV và HS được tiếp cận và thực hiện Chương trình mới 2018 một cách thuận lợi nhất. - Đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, có kinh nghiệm trong công tác giảng dạy, được tập huấn, chuyên đề thường xuyên về đổi mới Phương pháp dạy học theo Chương trình tổng thể mới của bộ giáo dục. - Đa số các em học sinh chăm ngoan, học giỏi, có ý thức nỗ lực phấn đấu.Phụ huynh có sự quan tâm tới con em mình. - Nhà trường có cơ sở vật chất, thiết bị tương đối đầy đủ ( Ti vi, máy chiếu,tranh ảnh tư liệu...) đảm bảo cho công tác giảng dạy. 2. Khó khăn a. Về phía giáo viên - Phương pháp dạy học của một số giáo viên còn nhiều hạn chế, vẫn còn trường hợp dạy học theo kiểu truyền thống, truyền thụ một chiều hoặc chỉ cho học sinh đọc - chép từ sách giáo khoa ra mà không tổ chức, dẫn dắt học sinh khám phá, tìm kiếm những nguồn tri thức mới. Chính vì vậy, muốn học sinh yêu thích bộ môn Lịch sử, trước hết giáo viên phải tổ chức giờ học Lịch sử trở nên sinh động, hấp dẫn, tạo niềm đam mê học tập cho học sinh một cách tự giác, học sinh sẽ có hứng thú hơn với bộ môn Lịch sử, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học. - Công tác tự nghiên cứu, tự bồi dưỡng để nâng cao chất lượng dạy học của một số giáo viên còn nhiều hạn chế, tâm lí ngại khó, chậm tiếp cận thích ứng với chương trình mới, đặc biệt ứng dụng CNTT chưa được đồng bộ. Bên cạnh đó, GV còn kiêm nhiệm nhiều công tác khác nên chưa chú tâm, mặn mà với đổi mới PPDH mới. b. Về phía học sinh - Bộ môn Lịch sử với những đặc trưng riêng của nó có vai trò và tác động to lớn trong việc giáo dục thế hệ trẻ nhưng việc học sinh không thích học và ngại tìm hiểu về lịch sử ngày càng nhiều. Nhiều em cho rằng đây là môn học phụ, là môn học thuộc lòng lại khô khan, nhàm chán nên không có hứng thú với bộ môn Lịch sử
  2. - Một số nội dung chương trình cũng đòi hỏi HS phải thật sự chú tâm, nghiên cứu, đòi hỏi phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS. Vậy để gây hứng thú học tập bộ môn Lịch sử và phát huy được tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh chúng ta phải thực hiện đổi mới phương pháp dạy học như thế nào? Hiện nay, có rất nhiều phương pháp, kĩ thuật day học mới theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh đã được giáo viên sử dụng, tiếp cận ở những khía cạnh khác nhau. Đó là những cách thức hành động của của giáo viên và học sinh trong các tình huống nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học,ví dụ Phương pháp dạy học theo dự án, nêu và giải quyết vấn đề, Tổ chức tro chơi, kỹ thuật “động não”, “tia chớp”, “bể cá”, bản đồ tư duy, kỹ thuật khăn trải bàn Việc tái tạo lịch sử muốn sinh động rất cần thiết sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại hỗ trợ. Đặc biệt, phải vận dụng kết hợp các phương pháp, kĩ thuật dạy học mới với mục đích, phương châm giảng dạy là “Phải làm cho học sinh yêu thích môn học của mình, truyền ngọn lửa yêu thích môn học thì mới có hiệu quả trong giảng dạy” vì vậy trong các bài giảng bên cạnh việc cung cấp các kiến thức thầy cô cần dạy cho học sinh lối sống, kỹ năng và những ứng dụng của kiến thức được học vào thực tế cuộc sống. Đặc biệt với bộ môn Lịch sử thì khâu này lại càng quan trọng, giáo viên phải dạy làm sao để học sinh yêu thích môn Lịch sử, biến mỗi giờ học Lịch sử trở nên sinh động, hấp dẫn , tránh sự nhàm chán, nặng nề như trước đây. Học sinh phải được xác định là chủ thể, thầy cô như người chỉ đường; qua đó các em tự khám phá lịch sử, tự thấy cái hay của lịch sử; được tham gia vào quá trình sáng tạo, được thể hiện cảm xúc, thái độ thực của bản thân. Có thể nói: “Lịch sử là công cụ, chỗ dựa, phương tiện để tu dưỡng con người. Môn Lịch sử đem lại cho con người thế giới kinh nghiệm, tri thức về xã hội. Giáo dục Lịch sử là giáo dục cho trẻ em những trải nghiệm, chứ không chỉ là tri thức .” tiếp cận vấn đề như vậy sẽ tìm ra phương pháp dạy học phù hợp, đổi mới việc ra câu hỏi kiểm tra đánh giá nhằm khai khai thác các nguồn sử liệu, tranh ảnh, lược đồ, câu hỏi mở tạo điều kiện cho học sinh tự biểu đạt chính kiến của mình về các vấn đề Lịch sử, từng bước đánh giá phẩm chất và năng lực học sinh, khắc phục tình trạng ghi nhớ sự kiện một cách máy móc, thuộc lòng nhàm chán trước đây. Bản thân tôi là một giáo viên Lịch sử, trong những năm học vừa qua, tôi đã được tiếp cận và thực hiện chương trình tổng thể 2018 về bộ môn Lịch sử. Tôi đã được tập huấn, dự chuyên đề và trực tiếp giảng dạ bộ môn Lịch sử và Địa lí 6,7( Phân môn Lịch sử). Qua việc tìm hiểu, tiếp cận và trực tiếp giảng dạy, tôi thấy việc vận dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học mới trong môn Lịch sử rất hay và mang lại hiệu quả cao, với việc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo ở học sinh gây hứng thú học tập cho học sinh tạo cơ sở để người học cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng qua đó hình thành và phát triển các năng lực, phẩm chất cho người học sinh. Sau đây tôi đưa ra chuyên đề Vận dụng một số phương pháp kĩ thuật dạy học để phát triển phẩm chất, năng lực học sinh ở môn Lịch sử và Địa Lý 8 ( phân môn Lịch sử) II.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học để phát triển phẩm chất, năng lực ở môn Lịch sử và địa lý 8 (Phân môn Lịch sử) 1. Vận dụng Kỹ thuật KWL - KWLH trong hoạt động Khởi động
  3. Kỹ thuật KWL - KWLH là một hình thức tổ chức dạy học theo hoạt động đọc hiểu. Học sinh bắt đầu bằng việc động não tất cả những gì các em đã biết về chủ đề bài đọc. Thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột K của biểu đồ. Sau đó học sinh nêu lên danh sách các câu hỏi về những điều các em muốn biết thêm trong chủ đề này. Những câu hỏi đó sẽ được ghi nhận vào cột W của biểu đồ. Trong quá trình đọc hoặc sau khi đọc xong, các em sẽ tự trả lời cho các câu hỏi ở cột W, các thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột L.Cuối cùng là điều Học sinh muốn nghiên cứu tìm hiểu thêm về vấn đề đó, những thông tin này sẽ được ghi ở cột H. Với câu hỏi trên, ta sẽ có bảng kĩ thuật KWLH như sau: K W L H (What we know) (What we want to (What we learned) ( How can we learn more) learn) - Ghi các từ, cụm - Ghi những điều HS Sau khi đọc bài và Ghi những thông tin trong từ có liên quan đến muốn biết thành câu suy nghĩ, HS ghi : bài em muốn tìm hiểu chủ đề. hỏi - Những câu trả lời thêm, cách em sẽ tiếp tục - HS thảo luận - Em có muốn biết cho câu hỏi ghi ở cột tìm hiểu. hoặc giải thích về thêm gì về một điều W GV gợi ý : Em muốn biết những điều đã ghi em ghi ở cột K thêm điều gì trong bài? - Những điều em không? thích trong bài đọc Em sẽ làm cách nào để tìm hiểu thêm ? - Thảo luận về những câu trả lời đã ghi ở cột L GV gợi ý : Câu trả lời nào đầy đủ, câu trả lời nào cần bổ sung gì ? Ví dụ : Khi dạy học bài 1. Cách mạng tư sản ở Châu Âu và Bắc Mỹ, GV có thể vận dụng kĩ thuật dạy học KWL- KWLH trong hoạt động khởi động nhằm xác định mục tiêu bài học , xác định những điều các em đã biết và những điều các em cần biết từ đó Giáo viên dẫn dắt đi vào bài mới. Giáo viên có thể chiếu một đoạn tư liệu về diễn biến các cuộc cách mạng tư sản hoặc cho HS xem hình ảnh về các nhân vật lịch sử liên quan đến bài học như : Ôli vơ Crôm – oen ( Anh), G.Oa-sinh-tơn (Mỹ), Rô-be-x-pie (Pháp), Hình ảnh người nông dân Pháp trước cách mạng - GV chuẩn bị những câu hỏi để giúp học sinh động não “Đọc thông tin và quan sát hình ảnh trong SGK, em hãy nói những gì em đã biết về những bức tranh (hình ảnh, đoạn video..) này ?” - Nhìn vào các hình ảnh này, qua tìm hiểu SGK, HS sẽ trả lời được câu hỏi đặt ra
  4. - GV có thể khuyến khích học sinh giải thích thêm, điều này rất quan trọng vì đôi khi những điều các em nêu ra có thể là mơ hồ hoặc không bình thường. Hỏi những câu hỏi tiếp nối và gợi mở “ Vì sao em biết như vậy?”. Nếu chỉ hỏi các em : “Các em muốn biết thêm điều gì về chủ đề này?” đôi khi học sinh trả lời đơn giản “không biết”, vì các em chưa có ý tưởng. - GV chuẩn bị sẵn một số câu hỏi của riêng bạn để bổ sung vào cột W. Có thể bạn mong muốn học sinh tập trung vào những ý tưởng nào đó, trong khi các câu trả lời của học sinh lại không mấy liên quan đến ý tưởng chủ đạo của bài đọc. - Ngoài việc bổ sung câu trả lời, khuyến khích học sinh ghi vào cột L những điều các em cảm thấy thích. Để phân biệt, có thể đề nghị các em đánh dấu những ý tưởng của các em. - Khuyến khích học sinh nghiên cứu thêm về những câu hỏi mà các em đã nêu ở cột W nhưng chưa tìm được câu trả lời từ bài đọc. - Với kĩ thuật này, tạo hứng thú học tập cho học sinh, khi những điều các em cần học có liên quan trực tiếp đến nhu cầu về kiến thức của các em.Giúp học sinh dần dần hình thành khả năng tự định hướng học tập, tâm lí sẵn sàng để đi vào khám phá một nguồn tri thức mới.Giúp giáo viên và học sinh tự đánh giá kết quả học tập, định hướng cho các hoạt động học tập kế tiếp. Từ đó GV có thể dẫn dắt HS đi vào bài học mới 2. Vận dụng CNTT để trình chiếu Video, kênh hình; thiết kế sơ đồ tư duy, niên biểu... và khai thác tư liệu lịch sử. Vận dụng CNTT vào trong quá trình dạy học Lịch sử là một phương pháp dạy học rất hiệu quả, giúp học sinh nắm được sự kiện lịch sử, tiếp xúc với nguồn sử liệu mà không thấy nhàm chán, gây hứng thú và phát huy được tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh. Chính vì vậy, việc tái tạo lịch sử muốn sinh động rất cần thiết sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại. Đưa công nghệ thông tin vào dạy học và sử dụng hiệu quả chính là thực hiện thành công một khâu trong đổi mới phương pháp dạy học. Chúng ta có thế vận dụng CNTT để khai thác các tư liệu lịch sử, kênh hình, trình chiếu video Ví dụ: Khi dạy học Bài 11. Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) và cách mạng tháng 10 Nga năm 1917, Giáo viên có thể vận dụng CNTT để khai thác một số hình ảnh, tư liệu liên quan đến Cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và cuộc Cách mạng tháng Mười Nga, qua đó HS sẽ có cái nhìn cụ thể, sinh động, dễ nhớ hơn các sự kiện lịch sử. + Để tạo động cơ học tập, kết nối kiến thức bài trước, làm cơ sở hình thành kiến thức bài mới. Từ đó, kích thích sự tò mò, lòng khát khao mong muốn tìm hiểu những điều chưa biết. Giáo viên có thể ứng dụng CNTT thiết kế Video và tổ chức cho học sinh xem ( trong khoảng 2 phút) trong phần khởi động, giới thiệu bài học. Nội dung Video có thể tái hiện lại những hình ảnh về diến biến Chiến tranh thế giới thứ nhất và Cuộc cách mạng tháng Mười Nga năm 1917. Trước khi chiếu Video, Giáo viên có thế đưa ra nhiệm vụ cho HS : Các em hãy xem đoạn video trong 2 phút và ghi ra giấy tất cả những câu hỏi mà các em đặt ra khi xem đoạn Video này? Khi HS đã chuẩn bị sẵn sàng thì Giáo viên bật Video. + Giáo viên có thể ứng dụng CNTT để khai thác hình ảnh Bản đồ thế giới và làm rõ các điểm nóng trên Chiến trường Châu Âu trong thế chiến thứ nhất trên bản đồ. Với việc thiết kế đồ họa ( đường chỉ dẫn, mũi tên, màu sắc) , Giáo viên có thể trình chiếu cho
  5. HS thấy các trận đánh một cách trực quan, sinh động và dễ hiểu, khắc sâu kiến thức đối với HS. Giáo viên cũng có thể gọi HS lên bảng kết hợp vừa trình chiếu diễn biến cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất vừa rèn luyện kĩ năng, thao tác sử dụng lược đồ, sử dụng CNTT của HS. Giáo viên có thể ứng dụng CNTT để khai thác kênh hình và tư tiệu lịch sử. Ví dụ Giáo viên có thể cho HS xem một cách trực quan, sinh động những tư liệu liên quan đến cuộc Cách mạng tháng Mười Nga mà có ảnh hưởng đến quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc ..từ đó nhấn mạnh tầm quan trọng mang tính quyết định của cách mạng Tháng Mười Nga đối với lịch sử dân tộc ta. Hoặc những hình ảnh về hậu quả của cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất sẽ cho HS thấy được những tội ác mà các nước đế quốc gây ra cho nhân loại, từ đó hình thành nên những phẩm chất về lòng nhân ái ở học sinh và các em phải có trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ nền hòa bình chung của thế giới. + Giáo viên có thể ứng dụng CNTT để vẽ Sơ đồ tư duy củng cố bài học, như chúng ta đã biết, Sơ đồ tư duy (SĐTD) còn gọi là bản đồ tư duy, lược đồ tư duy, là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức, bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực. Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí mà có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng SĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập SĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi học sinh. Đặc biệt các tính năng như tạo và sử dụng hình ảnh, nội dung kiến thức trọng tâm sẽ được khái quát và sử dụng các màu sắc giúp làm nổi bật các nhánh nội dung làm cho HS hứng thú, dễ nhớ, dễ học hơn. Với SĐTD, được vận dụng trong các nội dung ôn tập, củng cố bài học, hoạt động luyện tập Ví dụ : Khi dạy học Bài 12. Sự phát triển của Khoa học, kĩ thuật, văn học, nghệ thuật trong các thế kỉ XVIII – XIX, trong phần luyện tập GV có thể cho HS làm bài tập sau: ? Vẽ sơ đồ tư duy thể hiện thành tựu về khoa học, kĩ thuật, văn học và nghệ thuật trong các thế kỉ XVIII – XIX? Với bài tập này, học sinh sẽ hệ thống hóa lại kiến thức một cách cụ thể, khoa học nhất giúp HS dễ nhớ , dễ học. Việc sử dụng SĐTD rất hữu ích với người dạy, có thể thiết lập và phát triển khả năng học tập chủ động và năng động của học sinh. SĐTD là một công cụ hiệu quả giúp hướng dẫn học sinh tự tìm tòi, lĩnh hội, hệ thống kiến thức - dạy học dùng SĐTD kết hợp những phương pháp khác như: phát vấn, kể chuyện, thuyết trình, trò chơi, thảo luận, ...sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc tổ chức dạy học. 3.Vận dụng kĩ thuật “ Khăn trải bàn” trong tổ chức hoạt động nhóm. Kĩ thuật dạy học “ Khăn trải bàn ” là hình thức tổ chức hoạt động dạy học mang tính hợp tác, kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực của học sinh. Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh. Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh. Với kĩ thuật này, giúp cho hoạt động nhóm của học sinh có hiệu quả hơn, mỗi học sinh đều phải đưa ra ý kiến của mình về chủ đề đang thảo luận, không ỷ lại vào các bạn học khá, giỏi. Kĩ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với một chủ đề nhỏ trong tiết học, toàn thể học sinh cùng nghiên cứu một chủ đề. Sau khi các nhóm hoàn tất công việc giáo
  6. viên có thể gắn các mẫu giấy "khăn trải bàn" lên bảng để cả lớp cùng nhận xét. Có thể dùng giấy nhỏ hơn, dùng máy chiếu phóng lớn Giáo viên có thể thay số bằng tên của học sinh để sau đó giáo viên có thể đánh giá được khả năng nhận thức của từng học sinh về chủ đề được nêu Ví dụ : Khi tổ chức Hoạt động 3. Ý nghĩa và tác động trong Bài 11. Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) và cách mạng tháng 10 Nga năm 1917, GV có thể vận dụng kĩ thuật “Khăn trải bàn” cho HS hoạt động nhóm . HOẠT ĐỘNG NHÓM ( KT “Khăn trải bàn”) Nêu ý nghĩa lịch sử và tác động của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đối với nước Nga và lịch sử nhân loại ? Với kĩ thuật này, GV có thể sử dụng trong rất nhiều hoạt động, đặc biệt ở hoạt động Hình thành kiến thức trong chương trình Phân môn Lịch sử ( Lịch sử và Địa lý 8). Giáo viên chia lớp thành 5 nhóm, mỗi nhóm tương ứng 6 HS, mỗi người ngồi vào vị trí tương ứng của khăn trải bàn. HS tập trung vào câu hỏi và viết câu trả lời hoặc ý kiến của mình vào các ô tương ứng mang tên mỗi HS. Sau khi các thành viên làm việc thì cả nhóm thảo luận và thống nhất nội dung câu trả lời, nhóm trưởng sẽ viết câu trả lời vào ô giữa khăn trải bàn. Sau khi hết giờ thảo luận, Giáo viên mời một nhóm lên bảng báo cáo kết quả thảo luận của nhóm mình hoặc giáo viên có thể gắn các mẫu giấy "khăn trải bàn" lên bảng để cả lớp cùng nhận xét. các nhóm khác nhận xét và bổ sung cho nhau. Cuối cùng là Giáo viên nhận xét phần báo cáo của các nhóm và chốt kiến thức 4. Kết hợp phương pháp dạy học theo dự án và phương pháp đóng vai . Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của giáo viên, học sinh tự lực giải quyết một nhiệm vụ học tập mang tính kết hợp không chỉ về mặt lý thuyết mà đặc biệt về mặt thực hành, thông qua đó tạo ra các sản phẩm thực hành có thể giới thiệu, công bố được. Ví dụ: Khi tổ chức hoạt động dạy học về Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) , GV có thể giao cho HS về nhà sưu tầm tài liệu, trình bày diễn biến liên quan đến cược chiến tranh và trong tiết học cho HS báo cáo sản phẩm của nhóm mình. Phương pháp đóng vai là một trong những phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực học sinh, phát huy cao độ tính tự giác, độc lập và sáng tạo của người học.
  7. Phương pháp đóng vai làm phong phú thêm phương pháp dạy học của giáo viên, góp phần tích cực vào xu thế đổi mới phương pháp lịch sử hiện nay. Phương pháp này giúp học sinh nhận thức sâu sắc hơn nội dung lịch sử đang học, phát triển trí tuệ và giáo dục các phẩm chất nhân cách cho người học, có tác dụng to lớn trong tạo hứng thú và động cơ học tập cho học sinh, giáo dục kĩ năng sống và hướng nghiệp cho học sinh...phương pháp này đáp ứng được mục tiêu giáo dục đã đề ra: học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định mình. Để thực hiện Phương pháp đóng vai đạt hiệu quả cao thì Giáo viên phải kết hợp phương pháp dạy học theo dự án, nghĩa là giao nhiệm vụ cụ thể cho HS từ tiết trước. Để đóng vai nhân vật, HS sẽ được Giáo viên hướng dẫn, cung cấp thông tin về nhân vật sẽ đóng. Nguồn thông tin về nhân vật lịch sử có thể từ: kênh chữ, kênh hình trong sách giáo khoa, sách tham khảo, thông tin trên Internet... Để có được ngoại hình và thần thái giống nhân vật thì đòi hỏi học sinh phải tìm hiểu kĩ về nhân vật đó và những nguồn tư liệu liên quan đến nhân vật đó. Ví dụ: Vận dụng PPĐV nhân vật khi dạy học Bài 7. Phong trào Tây Sơn thế kỉ XVIII ? Em hãy đóng vai Nguyễn Huệ - Quang Trung kể lại nghệ thuật quân sự của mình trong quá trình đánh bại quân Xiêm và quân Thanh xâm lược? Để thực hiện được hoạt động này, Giáo viên kết hợp phương pháp dạy học theo dự án, giao nhiệm vụ đóng vai cho các nhóm từ tiết trước kết hợp tìm hiểu về các hành trình của các nhà thám hiểm, HS cũng cần nghiên cứu các tài liệu về vua Nguyễn Huệ và diễn biến các trận đánh chống quân Xiêm, quân Thanh. Trên cơ sở phân công đó, Giáo viên sẽ kiểm tra việc chuẩn bị của HS, duyệt kịch bản trước khi HS diễn trước lớp. Thời gian trình bày 2 phút cho mỗi nhân vật, Giáo viên yêu cầu: trang phục, thần thái nhân vật phải có sự chuẩn bị trước. Giáo viên dẫn dắt vấn đề: các em hãy theo dõi phần trình bày của 4 nhóm: Sau khi học sinh trình bày xong vai diễn, giáo viên cho học sinh nhận xét các vai diễn và GV nhận xét hoạt động đóng vai: Kịch bản, diễn xuất, đúng/sai, vai diễn thể hiện tốt nhất. Giáo viên phát vấn: Thông qua phần đóng vai của các nhóm, em hãy ghi nhớ được nghệ thuật đánh giặc của Nguyễn Huệ, vai trò của Nguyễn Huệ đối với lịch sử dân tộc. 5. Tổ chức Trò chơi trong hoạt động luyện tập. Như chúng ta đã biết, trò chơi là một hình thức giải trí,tuy nhiên tổ chức trò chơi trong giờ học lịch sử không nhằm mục đích giải trí cho học sinh mà nhằm tạo không khí học tập sôi nổi, giúp các em thấy thoải mái và tiếp thu bài học có hiệu quả. Có rất nhiều hình thức tổ chức trò chơi trong giờ học lịch sử nhưng tuỳ vào thời gian và điều kiện cụ thể, chúng ta có thể sắp xếp, tổ chức thực hiện sao cho phù hợp. Thông thường hiện nay, với qui mô của lớp học, giáo viên chỉ tiến hành giờ dạy trong 1 tiết học là 45 phút. Vì vậy, đối với mỗi trò chơi được tổ chức trong giờ học đòi hỏi người giáo viên cần có sự chuẩn bị, đầu tư kĩ lưỡng trên thực tế, có những trò chơi trong giờ học giáo viên có thể hoàn toàn tạo bất ngờ cho học sinh bằng cách không báo trước. Tuy nhiên, cũng có những trò chơi, thường là trong những tiết ôn tập, tổng kết hoặc làm trong hoạt động luyện tập.. Các dạng trò chơi trong giờ học lịch sử rất phong phú và đa dạng như: trò chơi ô chữ, trò chơi trả lời nhanh, trò chơi sắp xếp các sự kiện lịch sử theo thời gian, trò chơi đóng vai nhân vật lịch sử, trò chơi đi tìm mật mã lịch sử, trò chơi nhận biết nhân vật lịch sử qua tranh ảnh, thơ văn, truyện kể, trò chơi kể chuyện lịch sử, trò chơi đoán ý đồng đội, trò chơi thi ghi nhớ sự kiện, trò chơi chiếc nón kì diệu, trò chơi trình bày diễn biến trận đánh trên lược đồ câm ..
  8. Trong chương trình Lịch sử và Địa lí 8( Phân môn Lịch sử), Tổ chức trò chơi có thể vận dụng vào trong nhiều bài học, đặc biệt ở các hoạt động Khởi động, Luyện tập và Vận dụng. Ví dụ : Khi tổ chức hoạt động Khởi động bài 16. Việt Nam nửa sau thế kỉ XIX, GV có thể tổ chức trò chơi “Nhận diện các nhân vật Lịch sử” bằng việc chiếu các hình ảnh về các nhân vật lịch sử: Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phan Đình Phùng và đặt câu hỏi cho HS : Ông là ai? Ông có đóng góp gì cho lịch sử dân tộc? với hoạt động này, GV có thể dẫn dắt HS đi vào bài mới. Ngoài ra,tổ chức trò chơi còn được vận dụng nhiều trong các hoạt động Luyện tập ví dụ tổ chức các trò chơi Ai là triệu phú, Nhanh tay nhanh mắt để trả lười các câu hỏi trắc nghiệm. Ví dụ: Khi tổ chức hoạt động Luyện tập Bài 11. Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914- 1918) và cách mạng tháng 10 Nga năm 1917, GV có thể tổ chức trò chơi Tham quan nước Nga xinh đẹp qua hệ thống câu hỏi trắc nghiệm, với hoạt động này HS có hứng thú,vui vẻ, thoải mái với những hình ảnh ngộ nghĩnh của trò chơi nhưng cũng khắc sâu được những kiến thức cơ bản của bài học, giúp các em dễ nhớ và thích thú hơn đối với bài học. 6. Sử dụng kĩ thuật phòng tranh trong hoạt động dạy học. Kỹ thuật phòng tranh được coi là một trong những kỹ thuật dạy học tích cực có hiệu quả cao trong tổ chức các hoạt động học cho học sinh. Nó giúp phát huy tính tích cực, chủ động tham gia và hợp tác của học sinh. Kỹ thuật này cũng có tính linh hoạt cao. Giáo viên có thể sử dụng kĩ thuật này cho hoạt động cá nhân, hoạt động cặp hoặc hoạt động nhóm. Để tiến hành dạy học sử dụng kỹ thuật phòng tranh, giáo viên cần tiến hành theo các bước sau: - Giáo viên nêu câu hỏi/ vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm. - Mỗi thành viên (hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạ những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh. - Học sinh cả lớp đi xem "triển lãm" và có thể có ý kiến bình luận hoặc bổ sung. - Cuối cùng, tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại và tìm phương án tối ưu. Tuy nhiên, trên thực tế, đa số giáo viên đều tiến hành bước cuối cùng dưới dạng nhận xét và chữa các lỗi phổ biến của các sản phẩm. Trong chương trình Lịch sử và Địa lí 8 (Phân môn Lịch sử), GV có thể sử dụng kĩ thuật phòng tranh trong rất nhiều bài học, tuy nhiên với kĩ thuật này cũng sẽ gặp nhiều khó khăn: Chi phí để học sinh thực hiện cũng tốn kém, thông thường đây là một sản phẩm của nhóm nên sẽ không đủ số lượng tranh triển lãm, không gian phòng học chật hẹp cũng ảnh hưởng quá trình tham quan của HS nên với kĩ thuật này, GV có thể vận dụng ở một số tiết dạy, hoạt động tiêu biểu của chương trình. Ví dụ : Khi dạy học Bài 11. Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) và cách mạng tháng 10 Nga năm 1917, với hoạt động này có rất nhiều tranh ảnh, tư liệu liên quan đến 2 sự kiện lịch sử lớn của nhân loại trong thế kỉ XX, nên GV có thể vận dụng kĩ thuật phong tranh để khác thác các nguồn tư liệu, cho HS về nhà sưu tầm tranh ảnh, thơ văn liên quan để tạo nên các sản phẩm và hình thành phòng tranh dễ dàng hơn.
  9. Với hoạt động này, GV có thể vận dụng trong hoạt động Khởi động, trước khi vào bài học mới, GV có thể cho HS tham quan phòng tranh, sau đó Nhận xét, nêu cảm xúc của các em khi tham gia triễn lãm về Cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất hoặc Về cuộc cách mạng tháng Mười Nga năm 1917? các em đã biết được những thông tin gì từ cuộc triển lãm đó? từ đó GV dẫn dắt HS đi vào bài học mới. Với hoạt động này, có thể HS và GV gặp một số khó khăn: Khi tiến hành triển lãm tranh, có hiện tượng quá đông học sinh cùng xem một tranh. Trong khi đó, có tranh thì có rất ít học sinh đến xem, hoặc các học sinh dừng lại quá lâu ở một tranh nào đó dẫn đến việc các em có cơ hội xem ít tranh trong cuộc triển lãm. Do đó, giáo viên cần quán triệt rõ với học sinh về số lượng tranh tối thiểu mà mỗi HS cần phải xem và nhận xét. Điều này sẽ giúp học sinh lên kế hoạch và phân phối thời gian hợp lí, tránh đứng xem quá lâu một tranh nào đó, gây “ùn tắc giao thông”. Giáo viên cũng cần chú ý điều động học sinh chuyển vị trí xem tranh khi nhận thấy có quá đông học sinh đứng xem cùng một tranh. Việc điều chuyển này sẽ giúp học sinh trải dàn đều ra các tranh và đảm bảo tất cả các tranh đều được xem và nhận xét. Bên cạnh đó, nhằm tránh tình trạng học sinh chỉ lướt qua nhìn các tranh chứ không đọc kỹ, giáo viên nên phát cho mỗi học sinh một tờ phiếu nhận xét các tranh. Học sinh được yêu cầu xem tranh và ghi lại nhận xét, các lỗi của các sản phẩm để nhận xét sau khi kết thúc hoạt động triển lãm. Điều này giúp thu hút học sinh vào việc chữa và đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của các học sinh khác trong lớp. Đồng thời, thông qua quá trình đánh giá, nhận xét đó, học sinh sẽ tự học được các nội dung bài học giúp học sinh nâng cao hiệu quả giờ học. Việc yêu cầu học sinh tham gia đánh giá, nhận xét sản phẩm của các nhóm khác cũng giúp làm giảm bớt nhiệm vụ của giáo viên trong phần kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của học sinh và làm tăng tính khách quan, công bằng trong kiểm tra, đánh giá. Có thể nói, kĩ thuật phòng tranh là một trong những kĩ thuật dạy học tích cực giúp phát huy tính tích cực và chủ động trong học tập của người học. Tuy có nhiều khó khăn trong việc áp dụng kĩ thuật này trong giảng dạy, giáo viên thực hiện tốt các giải pháp khắc phục thì hiệu quả giờ dạy sẽ ngày càng được nâng cao. III. KẾT LUẬN Trên đây là Chuyên đề Vận dụng một số phương pháp kĩ thuật dạy học để phát triển phẩm chất, năng lực học sinh ở môn Lịch sử và Địa Lý 8 ( phân môn Lịch sử) Chuyên đề này sẽ góp phần định hướng cho giáo viên thực hiện đổi mới phương pháp dạy học vào trong các bài học cụ trong chương trình môn Lịch sử và Địa lí 8 ( Phân môn Lịch sử) nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh từ đó hình thành và phát triển năng lực và phẩm chất người học. Vận dụng biện pháp này trong quá trình dạy học sẽ giúp giáo viên phát huy tính tích cực, chủ động, khơi dậy khả năng tư duy, sáng tạo của học sinh, thông qua các kênh hình và các bản đồ, sơ đồ, về các nhân vật lịch sử cũng như các sự kiện lịch sử ,học sinh được khắc sâu và ghi nhớ những nội dung của bài học. Từ đó các em có những hiểu biết nhất định về lịch sử của dân tộc, lịch sử của thế giới, đặc biệt các em sẽ cảm thấy không nhàm chán mà càng hứng thú hơn với bộ môn Lịch sử. Đối với bản thân tôi, khi đã hiểu rõ, hiểu sâu, vận dụng tốt các phương pháp và kĩ thuật dạy học mới thì với vai trò là một giáo viên Lịch sử, tôi sẽ trao đổi,rút kinh nghiệm cùng đồng nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng công cuộc đổi mới hiện nay của nghành giáo dục .
  10. Đặc biệt, trong giai đoạn thực hiện Chương trình tổng thể 2018 đổi mới toàn diện của ngành giáo dục hiện nay, thì vấn đề này thực sự quan trọng và thiết thực trong hoạt động dạy học của giáo viên, chính vì vậy để vận dụng các phương pháp dạy học mới một cách hiệu quả, nâng cao chất lượng giáo dục, tôi có các kiến nghị ,đối với các cấp của ngành giáo dục cần tổ chức nhiều hơn nữa các buổi tập huấn, sinh hoạt chuyên đề, dạy thử nghiệm các tiết học mẫu để giáo viên các trường có dịp trao đổi, học hỏi và rút kinh nghiệm về nội dung và các phương phương dạy học phù hợp .Bên cạnh đó, đối với các trường học, Ban giám hiệu nhà trường cần xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị dạy học đầy đủ ( máy chiếu, ti vi, phòng bộ môn ) để có thể phục vụ cho công tác giảng dạy của giáo viên được tốt nhất. Với chuyên đề này, tôi chắc chắn sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ đồng nghiệp để giúp tôi bổ sung, hoàn thiện và rút kinh nghiệm trong công tác giảng dạy sau này. Tôi xin chân thành cảm ơn! Người báo cáo chuyên đề Nguyễn Thị Tuyết Nhung