SKKN Một số phương pháp khai thác, lược đồ, bản đồ, tranh, ảnh ở bộ môn Lịch sử Lớp 9 bậc THCS
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số phương pháp khai thác, lược đồ, bản đồ, tranh, ảnh ở bộ môn Lịch sử Lớp 9 bậc THCS", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_mot_so_phuong_phap_khai_thac_luoc_do_ban_do_tranh_anh_o.pdf
Nội dung tài liệu: SKKN Một số phương pháp khai thác, lược đồ, bản đồ, tranh, ảnh ở bộ môn Lịch sử Lớp 9 bậc THCS
- Đề tài: Một số phương pháp khai thác, lược đồ, bản đồ, tranh, ảnh ở bộ môn lịch sử lớp 9 bậc THCS A . ĐẶT VẤN ĐỀ I. Lý do chọn đề tài Như chúng ta biết theo Nghị quyết 29-NQ/TW: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới phương pháp dạy học lịch sử nói riêng trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay. Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử là một bộ phận của công cuộc đổi mới giáo dục toàn diện của đất nước. Bộ môn lich sử góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu môn học và trong mỗi bài học. Luật giáo dục, điều 28.2 đã ghi “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với từng lớp học, môn học; bỗi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Trên cơ sở trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản hiện đại của khoa học lich sử, bồi dưỡng các kĩ năng tư duy, thực hành, bộ môn lịch sử góp phần thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ trong nhà trường. Đồng thời có ưu thế rất lớn trong việc giáo dục lòng yêu nước, tinh thần dân tộc truyền thống đấu tranh cách mạng. Nhưng để môn học thực hiện được chức năng đó thì đòi hỏi giáo viên phải biết cách khai thác kiến thức, biết sử dụng phương pháp dạy học phù hợp, đồng thời phụ thuộc rất lớn vào việc khai thác và sử dụng đồ dùng dạy học hợp lý. Muốn đổi mới cách học, phải đổi mới cách dạy, cách dạy quyết định cách học.Trong những năm gần đây việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học học sinh làm trung tâm, người giáo viên chỉ giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn giúp người học tích cực, chủ động tìm tòi, khám phá, lĩnh hội kiến thức mới và hình thành được những phẩm chất và năng lực cho người học song song với việc
- hình thành các kĩ năng cơ bản như: kĩ năng thể hiện sự tự tin, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng kiểm soát cảm xúc, kĩ năng lắng nghe tích cực... Việc phát triển năng lực tư duy, kĩ năng vận dụng, thực hành trong dạy học lịch sử phải xuất phát từ nguyên lý giáo dục: “ Học đi đôi với hành”, “ Lý thuyết gắn với thực tiễn” và theo quan điểm của học thuyết Mác, Lê-nin hoạt động nhận thức của con người phải tuân theo quy luật: “ từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn”. Lịch sử là bộ môn khoa học xã hội chuyên nghiên cứu tìm hiểu về những gì diễn ra trong quá khứ. Học lịch sử giúp chúng ta biết được cội nguồn của tổ tiên, quê hương, đất nước; những gì nhân loại tạo ra trong quá khứ để xây dựng được xã hội văn minh ngày nay, từ đó hình thành được ở người học ý thức giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp do con người trong quá khứ đã để lại( trích cuốn Lịch sử và Địa lí theo chương trình phổ thông 2018). Do đó đặc trưng nổi bật của nhận thức lịch sử là học sinh không thể trực tiếp tri giác với những gì thuộc về quá khứ. Chính vì thế người giáo viên dạy lịch sử phải bằng các phương tiện trực quan sử dụng linh hoạt, nhuần nhuyễn các phương pháp để tái tạo lại bức tranh lịch sử quá khứ chính xác, chân thực, sống động nhằm tạo biểu tượng và hình thành khái niệm cho học sinh. Trên cơ sở đó giúp học sinh nắm vững bản chất sự kiện, rút ra quy luật và bài học lịch sử, biết vận dụng hiểu biết quá khứ vào thực tiễn hiện tại và hướng tới tương lai. Để phát triển tư duy độc lập sáng tạo và rèn luyện các kĩ năng cần thiết cho học sinh trong học tập lich sử điều quan trọng là giáo viên phải kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học trong đó việc đổi mới phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học, khai thác đồ dùng một cách hiệu quả cần phải được chú trọng. II. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 1. Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về phương pháp khai thác tranh, ảnh, lược đồ ở bộ môn lịch sử lớp 9 THCS 2. Phạm vi nghiên cứu: Chương trình lịch sử lớp 9 THCS 3. Mục tiêu và nhiệm vụ: a. Mục tiêu:
- Phương pháp đặc trưng của bộ môn lịch sử là phải gây được hứng thú, phát huy được tính tích cực của học sinh đó là sử dụng được đồ dùng và phương tiện dạy học đúng mục đích và có hiệu quả, yêu cầu của việc nhận thức. Người thầy có vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh sử dụng đúng, hiệu quả theo nội dung của bài học. Bởi thiết bị dạy học rất đa dạng, phong phú và sinh động như: tranh, ảnh, sơ đồ, lược đồ, biểu đồ, bản đồ, sa bàn, mẫu vật, phim tư liệu do đó giáo viên phải giúp học sinh khai thác đúng nội dung của những loại đồ dùng này. Tù đó giúp các em có được sự hứng thú trong học tập, phát huy được tính sáng tạo và niềm đam mê bộ môn lịch sử. Đồng thời phát triển được khả năng tư duy, hình thành được các kĩ năng và bồi dưỡng tình cảm thông qua nắm bắt các sự kiện lịch sử. b. Nhiệm vụ: Để đạt được mục tiêu trên trong quá trình thực hiện đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ sau: - Tìm hiểu các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học. - Dự giờ đồng nghiệp đúc rút kinh nghiệm. - Nắm vững các bước, các kĩ năng khai thác tranh, ảnh, lược đồ. - Dạy các tiết dạy thể nghiệm chuyên đề. - Hệ thống danh mục tranh, ảnh, lược đồ của bộ môn lịch sử lớp 9. - Tìm hiểu khả năng hứng thú học tập bộ môn của học sinh. 4. Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện đề tài, tôi đã tiến hành các phương pháp sau: - Phương pháp quan sát, phỏng vấn, phiếu điều tra, thu thập thống kê. - Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát. - Phương pháp đàm thoại, nêu vấn đề. - Phương pháp khảo sát, điều tra 5. Giả thiết khoa học:
- Nếu đề tài được áp dụng rộng rãi thành công, thì tôi thiết nghĩ rằng học sinh sẽ yêu thích môn lịch sử hơn, giáo viên phát huy được tính tích cực , chủ động của học sinh trong giờ học, rèn luyện được các kĩ năng trình bày, tường thuật, so sánh, đối chiếu, nhận xét về nhân vật lịch sử, trận đánh, một số sự kiện lịch sử và chắc chắn sẽ nâng cao chất lượng bộ môn lịch sử. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: I. Cơ sở khoa học 1. Cơ sở lý luận Trong sách lịch sử ở THCS nói chung và sách lịch sử lớp 9 nói riêng, hệ thống kiến thức chứa đựng trong kênh chữ giúp học sinh hình thành kiến thức cơ bản, phát triển tư duy lịch sử, tư duy trừu tượng. Hệ thống kiến thức xích lại gần thực tế hơn nếu biết khai thác kiến thức trong kênh hình(gồm lược đồ, bản đồ, tranh, ảnh) phục vụ cho bài học lịch sử hiệu quả và hấp dẫn hơn. Ngoài kiến thức được trình bày bằng nhiều loại ngôn ngữ: ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ toán học, ngôn ngữ âm nhạc Ngôn ngữ văn học được thông qua kênh chữ, ngôn ngữ toán học được thông qua niên biểu, sự kiện, số liệu còn các ngôn ngữ khác thông qua kênh hình. Tất cả các hình vẽ như lược đồ, bản đồ, tranh, ảnh trong sách giáo khoa hay ở kho thiết bị dạy học gắn với các sự kiện ở vào từng thời điểm nhất định được gọi là kênh hình. Chúng có tính trực quan cao và mô tả, diễn giải loogic các sự kiện trong dạy học lịch sử. Ngoài kiến thức lịch sử minh họa bằng kênh chữ, những kiến thức bằng kênh hình có khả năng nâng cao và mở rộng tầm hiểu biết của học sinh mà kênh chữ chưa đề cập đến hoặc điều kiện thời gian không cho phép. Trong dạy học lịch sử, giáo viên và học sinh cần coi trọng đúng mức vai trò của kênh hình ở môm lịch sử nói chung và môn lịch sử lớp 9 nói riêng cần được các thầy cô giáo và nhà nghiên cứu trình bày những kinh nghiệm để mọi người học tập và áp dụng. Trong dạy học lịch sử, kênh hình( lược đồ, bản đồ, tranh, ảnh) có chức năng vừa là phương tiện trực quan, vừa là nguồn tri thức lịch sử quan trọng đối với học sinh. Tranh ảnh, lược đồ, bản đồ không chỉ giúp học sinh nhận thức các sự kiện, nhân vật, địa điểm và hình ảnh một cách thuận lợi, sinh động hơn mà còn là nguồn tri thức để học sinh khai thác, tìm tòi phát hiện ra những kiến thức mới ẩn trong kênh hình. Những kiến thức này chỉ có được khi học sinh biết kết hợp
- những kiến thức lịch sử đã có với kĩ năng khai thác kênh hình Qua thực tế cho thấy học sinh nếu chỉ có nghe thôi thì lưu giữ được 20% kiến thức, viết chép thì nhớ 30%, kết hợp cả nghe lẫn nhìn thì mức độ nhớ tăng lên 50%. Nếu học sinh tự trình bày được lưu giữ được 80% kiến thức. Lược đồ, bản đồ, tranh, ảnh là trợ thủ đắc lực giúp học sinh thực hiện tốt nguyên tắc thống nhất giữa cụ thể và trừu tượng trong quá trình dạy học. Nó tạo ra khả năng cung cấp cho học sinh thông tin đầy đủ và chính xác hơn. Việc sử dụng lược đồ, bản đồ, tranh, ảnh góp phần tích cực cho học sinh trước tiên làm cho học sinh dễ tiếp thu trong quá trình nhận thức sau đó giáo dục thẩm mĩ cho các em. Kênh hình giúp cho nhận thức cảm tính được nhanh chóng, đúng bản chất ở nhiều góc cạnh khác nhau. Thông qua kênh hình và nghệ thuật biểu diễn của giáo viên sẽ góp phần nâng cao hứng thú trong học tập, tập trung mạnh mẽ vào bài học của học sinh. Vai trò của tranh ảnh, lược đồ, bản đồ thật đúng với một câu ngạn ngữ: “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm”. Có thể nói tranh, ảnh, lược đồ là phương tiện trực quan rất quan trọng trong dạy học lịch sử. Nó không chỉ góp phần quan trọng tái tạo lại cho học sinh những hình ảnh lịch sử với những nét điển hình nhất, đặc trưng nhất, mà còn khắc phục được tình trạng nhầm lẫn, hiện đại hóa lịch sử của học sinh. Trong dạy học phải kết hợp chặt chẽ việc sử dụng đồ dùng trực quan với các phương tiện dạy học khác. Các phương tiện trực quan sẽ giúp cho học sinh hiểu sâu, nhớ lâu và tiếp thu nhanh nội dung bài học. Sử dụng tốt đồ dùng trực quan giúp phát triển tư duy, rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh. Như vậy, đổi mới sử dụng đồ dùng dạy học chính là sự đổi mới trong một khía cạnh của đổi mới phương pháp dạy học. 2.Cơ sở thực tiễn Qua thực tiễn dạy học bộ môn lịch sử ở các nhà trường THCS, có một số ít giáo viên còn hạn chế về phương pháp giảng dạy, chưa chú trọng vấn đề tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn. Do nhận thức sai lệch về vị trí của bộ môn lịch sử trong đời sống xã hội dẫn tới chất lượng bộ môn giảm sút. Nhiều học sinh còn có những nhận thức chưa đúng về bộ môn, nhiều em có suy nghĩ lệch lạc và thậm chí có cả một bộ phận nhỏ là giáo viên còn cho rằng lịch sử là môn “phụ” nên chưa đầu tư nhiều thời gian để học. Tình trạng học sinh chưa nắm vững kiến
- thức, nhớ sai hoặc nhầm lẫn sự kiện cơ bản còn khá phổ biến. Qua dự giờ thăm lớp hàng năm thấy một số tiết dạy lịch sử có tranh, ảnh, lược đồ nhưng vẫn chưa được giáo viên khai thác và hướng dẫn học sinh sử dụng hiệu quả làm cho giờ học nhàm chán, thiếu sinh động không gây hứng thú học tập cho học sinh.Vì vậy đòi hỏi giáo viên phải có kĩ năng và phương pháp sử dụng tranh, ảnh, bản đồ hiệu quả để tái tạo lịch sử một cách sinh động, hấp dẫn, khơi dậy lòng hừng thú say mê học tập cho học sinh. Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi đã mạnh dạn xây dựng đề tài: “ Một số phương pháp khai thác tranh, ảnh, lược đồ ở bộ môn lịch sử lớp 9 THCS”. 3.Mục đích của việc sử dụng đồ dùng dạy học trong dạy học lịch sử - Hỗ trợ học sinh trong việc cung cấp kiến thức, giảm tính trừu tượng của bài học. - Góp phần đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá kết qủa học tập của học sinh. - Trợ giúp cho giáo viên trong việc hướng dẫn học sinh kiến thức mới, phát huy tìm tòi khám phá của học sinh. - Hỗ trợ giáo viên trong việc nâng cao kiến thức, kỹ năng và thiết kế bài dạy. 4. Phân loại tranh, ảnh, bản đồ, lược đồ. - Các loại tranh, ảnh - Loại bản đồ, lược đồ xác định vị trí quốc gia, khu vực hoặc địa điểm, địa danh lịch sử. - Loại bản đồ, lược đồ trình bày diễn biến chiến dịch trận đánh. - Bản đồ, lược đồ trống. Tất cả tranh, ảnh, lược đồ, bản đồ có nguồn gốc khác nhau từ sách giáo khoa, từ mạng In-tơ-net, các ảnh tự chụp 5. Một số yêu cầu khi sử dụng, khai thác đồ dùng dạy học - Khi soạn bài cũng như lên lớp, giáo viên cần phải xây dựng được hệ thống câu hỏi tương đối chuẩn xác, rõ ràng để học sinh làm việc với các đồ dùng nhằm lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng. Khi lên lớp giáo viên chú ý vị trí đặt đồ dùng dạy học phải đảm bảo cho học sinh cả lớp quan sát được hoặc các thành viên
- trong nhóm đều được làm việc với thiết bị dạy học. Khi sử dụng giáo viên phải nắm chắc nội dung kiến thức cần khai thác trên tranh, ản, lược đồ, chọn lọc ngôn ngữ giàu hình ảnh, ngắn gọn, súc tích, mô tả, tường thuật sinh động tránh tình trạng sử dụng mang tính hình thức, chiếu lệ. - Giáo viên phải có các kĩ năng cần thiết, sử dụng linh hoạt nhuần nhuyễn các thao tác kết hợp tường thuật, mô tả, kể chuyện, minh họa tranh, ảnh, thơ ca làm cho bài giảng sinh động và hấp dẫn gây sự tò mò và hứng thú cho học sinh. Mặt khác giáo viên phải gợi ý cho học sinh bằng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực, rèn luyện các thao tác mắt thấy, tai nghe, óc quan sát, ghi nhớ, tưởng tượng; phát triển tư duy, rèn luyện phương pháp tự tìm tòi khám phá và thực hành bộ môn. - Đồ dùng dạy học môn lịch sử rất phong phú, đa dạng: tranh, ảnh, lược đồ, mẫu vật, băng hình, phim tài liệu Tuy nhiên chỉ có tranh ảnh và lược đồ là hai loại đồ dùng được sử dụng nhiều nhất, quan trọng nhất trong dạy học lịch sử ở trường THCS. - Cần lựa chọn tranh, ảnh, lược đồ, mẫu vật, băng hình, phim tài liệu mang tính thiết thực đối với nội dung bài học, đồng thời sử dụng tối nội dung đã được thể hiện trên mỗi kênh hình. 6. Một số kĩ năng khai thác tranh, ảnh, lược đồ Để việc sử dụng tranh ảnh, bản đồ, lược đồ thống nhất và có hiệu quả nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập bộ môn và theo quan điểm đổi mới dạy học. Đồ dùng dạy học là một nguồn nhận thức lịch sử chứ không chỉ là minh họa cho bài học. a. Tranh, ảnh - Những kĩ năng cần lưu ý: Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung của tranh ảnh trong sách giáo khoa của lịch sử lớp 9, giáo viên cần chú ý rèn cho học sinh những kỹ năng sau: + Kỹ năng quan sát, nhận xét. + Kĩ năng mô tả, tường thuật. + Kĩ năng phân tích, nhận định, đánh giá.
- - Phương pháp khai thác tranh ảnh: Để việc khai thác tranh ảnh có hiệu quả, phát huy được tính tích tích cực của học sinh nhằm mục tiêu học sinh tự tìm hiểu nội dung của bài học qua tranh ảnh dưới sự hướng dẫn, tổ chức của thầy cô. Giáo viên hướng dẫn học sinh phải tuân thủ theo những nguyên tắc sau: + Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu, nghiên cứu trước tranh ảnh ở nhà để đến lớp các em tranh thủ được tthoiwf gian dưới sự hướng dân của thầy cô giáo các em khai thác được một cách triệt để hơn. + Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát để xác định một cách khái quát nội dung tranh ảnh cần khai thác. Nêu tên của tranh ảnh, xác định tranh ảnh đó thể hiện điều gì? +Giáo viên đưa ra câu hỏi nêu vấn đề, tổ chức hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung tranh ảnh. + Sau khi quan sát học sinh trình bày kết quả tìm hiểu nội dung tranh ảnh, kết hợp gợi ý của giáo viên và tìm hiểu nội dung bài học. + Giáo viên nhận xét bổ sung những vấn đề học sinh vừa trả lời, đồng thời hoàn thiện nội dung khai thác tranh ảnh cung cấp cho học sinh. b.Lược đồ, bản đồ - Những kĩ năng cần chú ý: + Kĩ năng vẽ lược đồ, bản đồ. + Kĩ năng tường thuật, miêu tả. + Kĩ năng quan sát, so sánh. + Kĩ năng nhận định, đánh giá rút ra qui luật, bài học lịch sử. - Phương pháp khai thác bản đồ, lược đồ: Việc khai thác nội dung lược đồ theo hướng dẫn phát huy tính tích cực trong học tập của học tập của học sinh là một yêu cầu quan trọng để học sinh tự khám phá nội dung lược đồ. Việc tổ chức cho học sinh làm việc với bản đồ, lược đồ có thể tiến hành theo các bước như sau:
- + Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát lược đồ, bản đồ, trong đó chú ý cả về nội dung, ranh giới và các kí hiệu trên bản đồ, lược đồ. Đọc phần chú giải để biết người ta thể hiện đối tượng đó trên bản đồ như thế nào? + Giáo viên đặt câu hỏi nêu vấn đề và gợi ý để học sinh tìm hiểu nội dung của lược đồ, bản đồ theo yêu cầu của bài học. + Giáo viên gọi học sinh trả lời câu hỏi bằng việc trình bày kết qảu tìm hiểu nội dung của lược đồ, bản đồ. + Giáo viên nhận xét bổ sung những nội dung học sinh trả lời và hoàn thiện nội dung bản đồ mà học sinh cần tìm hiểu. Cuối cùng học sinh nắm được cách khai thác bản đồ, lược đồ; nội dung của bản đồ, lược đồ gắn với nội dung bài học hiệu quả. Bản đồ, lược đồ là nguồn kiến thức quan trọng do đó giáo viên phải hướng dẫn học sinh khai thác đúng và đầy đủ những nội dung mà lược đồ, bản đồ cần truyền tải nhằm phát huy cao tính chính xác và có ý nghĩa giáo dục đối với học sinh. 7. Một số ví dụ minh họa Trong quá trình dạy học giáo viên phải luôn chú trọng phương pháp sử dụng và khai thác tranh, ảnh, lược đồ để nâng cao hiệu quả giờ học và gây hứng thú yêu thích bộ môn của học sinh 7.1. Tranh, ảnh:
- 7.1.1. Bức tranh, ảnh 1: Nguyễn Ái Quốc tại đại hội Đảng xã hội Pháp họp ở tua(Tháng12/1920). * Dùng sử dụng dạy Bài 16.Tiết 19: Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở nước ngoài trong những năm 1919- 1925 * Giáo viên dùng để trình bày hoạt động Nguyễn Ái Quốc ở Pháp (1917-1923) +Giáo viên giới thiệu: Bức ảnh này được sưu tầm từ bộ ảnh tư liệu trưng bày tại bảo tàng cách mạng Việt Nam. + Học sinh quan sát bức tranh qua màn hình + Giáo viên hỏi: Hãy cho biết nội dung của bức ảnh trên ? + Trước khi học sinh trả lời, giáo viên gợi ý: - Địa điểm diễn ra Đại hội? - Thời gian diễn ra Đại hội ? - Tại đại hội Đảng xã hội Pháp Nguyễn Ái Quốc đã làm gì ? * Giáo viên trình bày về sự hiểu biết của mình về nội dung bức ảnh đó. * Học sinh bổ sung.
- * Giáo viên nhận xét học sinh trả lời và bổ sung. 7.1.2. Bức tranh, ảnh 2: Xe tăng quân giải phóng tiến vào dinh Độc lập, ngày 30/ 4/ 1975. * Dùng dạy Bài 30. Tiết 46: Hoàn thành giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước (1973- 1975).( Dạy phần diễn biến của chiến dịch Hồ Chí Minh) * Giáo viên giới thiệu: Đây là bức ảnh ghi lại hình ảnh lịch sử thiêng liêng nhất, hùng tráng nhất, đó là giớ phút xe tăng đầu tiên mang số hiệu T54B 843 của binh đoàn hỗn hợp( quân đoàn II) tiến thẳng vào dinh Độc lập trưa ngày 30/ 4/ 1975. * Khi trình bày diễn biến chiến dịch Hồ Chí Minh, giáo viên dùng bức tranh cho học sinh quan sát, giáo viên sử dụng các tư liệu lịch sử miêu tả và tường thuật. 7.1.3. Bức tranh, ảnh 3: Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
- * Dùng dạy Bài 22. Tiết 26: Cao trào Cách mang tiến tới Tống khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. * Khi dạy hoạt động của Mặt trận Việt Minh và qua mặt trận Việt Minh xây dựng lực lượng vũ trang, giáo viên giới thiệu: Theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập vào ngày 22/12/1944, ra đời tại khu rừng Trần Hưng Đạo( Nguyên Bình – Cao Bằng) do Võ Nguyên Giáp chỉ huy chính và Hoàng Sâm được cử làm đội trưởng – gồm 34 chiến sỹ, sau khi ra đời đã đánh thắng 2 trận lớn ở Phay Khắt và Nà Ngần ( Cao Bằng) 7.2. Bản đồ, lược đồ: 7.2.1. Lược đồ phong trào cách mạng 1930- 1931 và Xô Viết Nghệ Tĩnh.
- * Dùng dạy Bài 19.Tiết 23: Phong trào Cách mạng trong những năm 1930- 1935. ( dạy phần diễn biến) * Giáo viên kết hợp việc nêu câu hỏi, hướng dẫn học sinh trả lời, tường thuât, miêu tả, chỉ lược đồ. + Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu chú giải trên lược đồ. + Giáo viên hỏi: Dựa vào kênh chữ và phần chú giải, em hãy chỉ những dịa danh nơi nổ ra phong trào 1930- 1931 trên lược đồ? + Gọi học sinh xác định trên lược đồ các địa danh nổ ra cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân từ tháng 2/1930 đến tháng 10/ 1930. + Học sinh khác bổ sung (nếu cần). + Giáo viên kết luận bằng cách vừa chỉ bản đồ vừa trình bày ngắn gọn phong trào Cách mạng 1930- 1931 và chuyển sang phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. + Khi trình bày phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, giáo viên tường thuật trên lược đồ.
- + Giáo viên vừa trường thuật vừa chỉ các địa danh nổ ra cuộc biểu tình của công nhân, nông dân ở Nghệ An và Hà Tĩnh từ 1/5/1930 đến tháng 10/ 1930 như: Bến Thủy, Thanh Chương, Can Lộc, Kết hợp với minh họa thơ ca cách mạng: “ Kìa Bến Thủy đứng đầu dậy trước. Nọ Thanh Chương tiếp bước đi lên. Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên .” + Giáo viên tường thuật sự kiện ngày 12/ 9/ 1930: Khoảng 8000 nông dân Hưng Nguyên kéo đến phủ lị với những khẩu hiệu Cách mạng “đả đảo chủ nghĩa đế quốc”, đoàn biểu tình xếp thành hàng dài hơn 1 km kéo về thành phố Vinh, đi đầu là những người cầm cờ đỏ, đi hai bên là những đội viên tự vệ được trang bị dao gậy .Quần chúng kéo đến huyện lỵ phá nhà lao, đốt huyện đường, vây đồn lính khố xanh + Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu phong trào diễn ra ở ở Nghệ An và Hà Tĩnh. + Giáo viên hỏi: Tại sao ở Nghệ Tĩnh phong trào đạt đến đỉnh cao? + Học sinh trả lời; giáo viên nhận xét, bổ sung và kết luận. 7.2.2. Lược đồ: Chiến dịch Biên giới Thu- Đông 1950 ( lược đố trống- nội dung cụ thể của lược đồ ở dạng mờ)
- * Dùng dạy mục I Bài 26. Tiết 34: Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân pháp (1950- 1953). *Giáo viên hỏi: Hãy cho biết quân ta chọn cứ điểm nào để đánh trong chiến dịch Biên Giới ? Diễn biến chiến dịch ra sao ? * Học sinh dựa vào SGK và lược đồ trống trình bày cuộc tấn công của quân ta vào cứ điểm Đông Khê và diễn biến trên lược đồ. * Học sinh khác bổ sung. * Giáo viên nhận xét và trình bày (Kết hợp với dùng bút dạ hoặc giấy màu đính các kí hiệu trên lược đồ ) * Giáo viên hỏi học sinh: Em hãy so sánh cách đánh địch trong chiến dịch Việt Bắc với cách đánh trong chiến dịch Biên giới ).
- * Học sinh trả lời. * Giáo viên nêu lại những điểm chính và khẳng định sự trưởng thành của quân đội ta. 7.2.3. Lược đồ trống hình thái chiến trường trên các mặt trận Đông - Xuân 1953- 1954 và lược đồ chiến dich Điện Biên Phủ ( 1954) .
- * Dùng dạy Bài 27.Tiết 36, 37: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc (1953- 1954).( Dạy phần II, gồm mục 1 và mục 2) . * Giáo viên hỏi: - Ta có chủ trương đối phó với kế hoạch Na Va như thế nào ? - Ta chọn các hướng tiến công Đông Xuân 1953- 1954 như thế nào ? * Học sinh trả lời, giáo viên vừa trình bày, vừa đính ký hiệu mũi tên vào các điểm tiến công của ta trên lược đồ, dùng bút dạ ghi các địa danh nơi địch đổ quân xuống * Giáo viên treo lược đồ trống chiến dịch Điện Biên Phủ. * Gáo viên hỏi: Pháp- Mĩ đã làm gì để xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất ở Đông Dương ?
- * Học sinh trả lời; giáo viên bổ sung vừa trình bày đính tên các phân khu, cứ điểm vào lược đồ . * Giáo viên hỏi: - Tại sao ta quyết định đánh Điện Biên phủ ? - Ta đã làm gì chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ ? * Giáo viên tường thuật sinh động diễn biến chiến dịch (Dùng ký hiệu bằng mũi tên thể hiện màu sắc khác nhau của 3 đợt đánh ), tường thuật đến đâu giáo viên đính mũi tên đến đó. 8. Kết quả Qua quá trình khảo nghiệm tại lớp 2 lớp 9A và lớp 9B tôi thấy rằng: Việc xây dựng và tổ chức khai thác hệ thống tranhanhr, lược đồ, bản đồ trong giảng dạy môn lịch sử lớp 9 đã có nhiều ưu thế hơn trong việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, gây hứng thú cho người học. Chất lượng đại trà và chất lượng mũi nhọn được cải thiện đáng kể. Giáo viên là người thực sự hướng dẫn, tổ chức cho người học chứ không phải là trung tâm của tiết dạy, thực hiện theo đúng phương châm lấy người học làm trung tâm theo đúng mục tiêu Nghị quyết 29- NQ/TW. Qua quá trình giảng dạy tôi đã đầu tư nghiên cứu nội dung kiến thức và vận dụng nhuần nhuyễn các phương pháp, trong đó chú trọng phương pháp sử dụng đồ dùng và phương tiện dạy học nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh, giúp học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản và rèn luyện kĩ năng thực hành góp phần nâng cao chât lượng bộ môn. Kết quả khảo sát như sau: + Trước khi chưa thực hiện đề tài: Lớp 9A Tổng số HS Giỏi- tỉ lệ % Khá- tỉ lệ% Trung bình- Yếu- tỉ lệ% khảo sát tỉ lệ% 32 2- 6,3% 8- 25% 18- 56,2% 4- 12,5% Lớp 9B
- Tổng số HS Giỏi- tỉ lệ % Khá- tỉ lệ% Trung bình- Yếu- tỉ lệ% khảo sát tỉ lệ% 30 3- 10% 7- 23,4% 15- 50% 5- 16,6% + Sau khi thực hiện đề tài Lớp 9A Tổng số HS Giỏi- tỉ lệ% Khá- tỉ lệ% Trung bình- Yếu- tỉ lệ% khảo sát tỉ lệ% 32 4 – 12,5% 11- 34,4% 15- 46,9 2- 6,2% Lớp 9B Tổng số HS Giỏi- tỉ lệ % Khá- tỉ lệ% Trung bình- Yếu- tỉ lệ% khảo sát tỉ lệ% 30 4- 13,3% 9- 30% 15- 50% 2- 6,7% C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Trong quá trình dạy học, việc sử dụng và khai thác đồ dùng dạy học hiệu quả sẽ phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh. Bỗi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Đối với bộ môn lịch sử, việc nghiên cứu, tìm tòi để lựa chọn phương pháp tối ưu nhằm tái tạo sinh động bức tranh quá khứ là rất quan trọng và cần thiết. Do đó, quá trình giảng dạy tôi luôn bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng, đầu tư trí tuệ vào phương pháp sử dụng tranh, ảnh, lược đồ( bằng chất liệu giấy và qua trình chiếu) để khai thác nguồn kiến thức và rèn luyện kĩ năng cho học sinh. 2. Kiến nghị a. Đối với các cấp quản lý:
- - Chỉ đạo tổ chức thực hiện đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường một cách hiệu quả, thường xuyên kiểm tra đánh giá các hoạt động dạy học theo định hướng dạy học bám sát chuẩn kiến thức , kĩ năng đồng thời với tích cực đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới phương pháp sử dụng, khai thác đồ dùng dạy học. - Hàng năm bổ sung thêm thiết bị dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới . - Động viên kịp thời những giáo viên có đồ dùng dạy học tự làm phù hợp với nội dung bài dạy. b. Đối với tổ chuyên môn: - Chỉ đạo xây dựng các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học trong đó đề cập đến vấn đề đổi mới, sáng tạo sử dụng thiết bị dạy học. - Chỉ đạo dạy thể nghiệm chuyên đề . - Đầu năm có kế hoạch lập dự trù bổ sung thiết bị dạy học. c. Đối với giáo viên: - Bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng để thiết kế bài dạy. - Sử dụng và khai thác tốt thiết bị dạy học để nâng cao hiệu quả giờ học. - Tăng cường dự giờ thăm lớp của đồng nghiệp để học hỏi kinh nghiệm , - Luôn tự học , tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ nghiệp vụ tay nghề. d. Đối với học sinh: Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám khá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúng đắn. Qua quá trình dạy học lịch sử nhiều năm ở trường THCS, với mong muốn trao đổi kinh nghiệm, tôi đã mạnh dạn đưa ra đề tài: “Một số phương pháp khai thác lược đồ, bản đồ, tranh, ảnh ở bộ môn lịch sử 9 THCS’. Kinh nghiệm tôi đưa ra chắc chắn còn nhiều thiếu sót và hạn chế, rất mong sự góp ý chỉ bảo của hội đồng khoa học các cấp và bạn bè đồng nghiệp. Xin chân thành cảm ơn!

