Đề cương ôn tập học kỳ I môn Ngữ văn 8 - Năm học 2019-2020

pdf 25 trang LinhLan 16/06/2026 710
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề cương ôn tập học kỳ I môn Ngữ văn 8 - Năm học 2019-2020", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfde_cuong_on_tap_hoc_ky_i_mon_ngu_van_8_nam_hoc_2019_2020.pdf

Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập học kỳ I môn Ngữ văn 8 - Năm học 2019-2020

  1. ĐỀ CƯƠNG MÔN NGỮ VĂN 8 KÌ I 2019-2020 ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LỚP 8 HỌC KÌ I MÔN NGỮ VĂN I.PHẦN VĂN: - HS cần nắm vững các kiến thức như: Tên tác giả, tên tác phẩm, thể loại, phương thức biểu đạt , nội dung , nghệ thuật của những văn bản đã học: Tác Tác giả-Phong cách sáng Hoàn cảnh ra Ý nghĩa Văn bản phẩm tác đời Tôi đi -Thanh Tịnh. In trong tập “Quê học mẹ”, xuất bản -Là nhà văn có sáng tác từ Buổi tựu trường đầu tiên sẽ năm 1941. trước CM tháng Tám ở các mãi mãi không bao giờ thể loại thơ, truyện; Sáng tác quên trong kí ức nhà văn của Thanh Tịnh toát lên vẻ Thanh Tịnh. đẹp đắm thắm, êm dịu, trong trẻo. Trong Nguyên Hồng (1918-1982) , Chương IV của lòng mẹ là nhà văn của những người tập hồi kí “Những Tình mẫu tử là mạch nguồn cùng khổ, có nhiều sáng tác ở ngày thơ ấu” tình cảm không bao giờ vơi thể loại tiểu thuyết, kí thơ. trong tâm hồn con người. Tức Ngô Tất Tố (1893-1954)là Nắm ở chương Với cảm quan nhạy bén, nước vỡ nhà văn xuất sắc của trào lưu XVIII của tác nhà văn Ngô Tất Tố đã bờ hiện thức trước Cách mạng; phẩm “Tắt đèn” phản ánh hiện thực về sức là người am tường trên nhiều phản kháng mãnh liệt lĩnh vức nghiên cứu, học chống lại áp bức của những thuật , sáng tác. người nông dân hiền lành, chất phác. Lão Hạc Nam Cao (1915-1951)là nhà “Lão Hạc”là tác Văn bản thể hiện phẩm giá văn đã đóng góp cho nền phẩm tiêu biểu của người nông dân không văn học dân tộc những tác của nhà văn Nam bị hoen ố cho dù phải sống phẩm hiện thực xuất sắc viết Cao được đăng trong cảnh khốn cùng. về đề tài người nông dân báo lần đầu năm nghèo bị áp bức và người trí 1943. thức nghèo sống mòn mỏi trong xã hội cũ. Cô bé An-đéc-xen (1805-1875) là Cô bé bán diêm là Truyện thể hiện niềm bán diêm nhà văn Đan Mạch ,”người một trong những thương cảm sâu sắc của nhà kể chuyện cổ tích” nổi tiếng nhà văn nổi tiếng văn đối với những số phận thế giới, truyện của ông đem của nhà văn. bất hạnh.
  2. đến cho độc giả cảm nhận về niềm tin và lòng thương yêu đối với con người. Đánh Xec-van-tet (1547-1616), là Tác phẩm tiêu Kể câu chuyện về sự thất nhau với nhà văn Tây Ban Nha. biểu của ông là bại của Đôn-ki-hô-tê đánh cối xay tiểu thuyết Đôn- nhau với cối xay gió , nhà gió ki-hô-tê văn chế giễu lí tưởng hiệp sĩ phiêu lưu hão huyền, phê phán thói thực dụng thiển cận của con người trong đời sống xã hội.. Chiếc lá Ô Hen-ry (1862-1910) là nhà Đoạn trích là Chiếc lá cuối cùng là câu cuối văn Mĩ chuyên viết truyện phần cuối của chuyện cảm động về tình cùng ngắn . Tinh thần nhân đạo truyện ngắn cùng yêu thương giữa những cao cả được thể hiện một tên người nghệ sĩ nghèo . Qua cách cảm động là điểm nổi đó, tác giả thể hiện quan bật trong các tác phẩm của niệm của mình về mục đích ông. của sáng tạo nghệ thuật. Hai cây Ai-ma-tôp (1928-2008) là Đoạn trích thuộc Hai cây phong là biểu phong nhà văn nước Cư-rư-gư-xtan. phần đầu truyện tượng của tình yêu quê “Người thầy đầu hương sâu nặng gắn liền tiên” với những kỉ niệm tuổi thơ đẹp đẽ của người nghệ sĩ làng Ku-ku-rêu. Thông . Ra đời ngày 22- Nhận thức về tác dụng của tin về 04-2000 nhân lần một hành động nhỏ, có tính ngày đầu tiên Vn tham khả thi trong việc môi Trái đất gia Ngày Trái Đất trường Trái Đất. năm 2000 Ôn dịch, Nguyễn Khắc Viện Với những phân tích khoa thuốc lá học, tác giả đã chỉ ra tác hại của việc hút thuốc lá đối vối đời sống con người, từ đó phê phán và kêu gọi mọi ngừa ngăn ngừa tệ nạn hút thuốc lá. Bài toán Thái An VB nêu lên vấn đề thời sự dân số của đời sống hiện tại: Dân số và tương lai của dân tộc, nhân loại. II.PHẦN TIẾNG VIỆT : 2.Trường từ vựng: Là tập hợp của những từ có ít nhất một nét chung về nghĩa.
  3. VD:Y phục: quần áo, giày dép, mũ nón 3. Từ tượng hình-Từ tượng thanh: -Từ tượng hình: là từ gợi tả hình ảnh, dáng vẻ, trạng thái của sự vật -Từ tượng thanh: là từ mô phỏng âm thanh của tự nhiên, của con người. 4.Từ địa phương và biệt ngữ xã hội: -Từ địa phương: là từ ngữ chỉ sử dụng ở một hoặc một số địa phương nhất định -Biệt ngữ xã hội: chỉ được dùng trong một tầng lớp xã hội nhất định. 5.Trợ từ: Là những từ chuyên đi kèm một từ ngữ trong câu để nhấn mạnh hoặc biểu thị thái độ đánh giá sự vật, sự việc được nói đến ở từ ngữ đó. VD: những, có, chính, đích, ngay 6. Thán từ: Là những từ dùng để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của người nói hoặc dùng để gọi đáp. Thán từ gồm có hai loại chính: -Thán từ bộc lộ tình cảm, cảm xúc: a, ái, ơ, ôi, ô hay, than ôi, trời ơi -Thán từ gọi đáp: này, vâng, dạ, ừ 7. Tình thái từ: Là những từ được thêm vào câu để tạo câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán, và để biểu thị các sắc thái tình cảm của người nói. Tình thái từ gồm một số loại đáng chú ý: -Tình thái từ nghi vấn - Tình thái từ cầu khiến - Tình thán từ cảm thán -Tình thái từ biểu thị sắc thái tình cảm. 8.Nói quá: Là biện pháp tu từ phóng đại qui mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm. 9.Nói giảm nói tránh: Là một biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị , uyển chuyển, tránh gây cảm giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng nề; tránh thô tục, thiếu lịch sự. 10. Câu ghép: Là những câu do hai hoặc nhiều cụm C-V không bao chứa nhau tạo thành. Mỗi cụm C-V này được gọi là một vế câu. Quan hệ ý nghĩa giữa các vế trong câu ghép: - QH nguyên nhân - QH điều kiện (giả thiết) - QH tương phản - QH tăng tiến - QH lựa chọn - QH bổ sung - QH nối tiếp
  4. - QH đồng thời - QH giải thích. 11. Dấu ngoặc đơn: dùng để đánh dâu phần chú thích (giải thích, thuyết minh, bổ sung thêm) 12. Dấu hai chấm: dùng để: - Đánh dâu phần giải thích, thuyết minh cho một phần trước đó - Đánh dấu lời dẫn trực tiếp (dùng với dấu ngoặc kép) hay lời đối thoại (dùng với dâu gạch ngang). 13. Dấu ngoặc kép: dùng để: - Đánh dấu từ ngữ, câu, đoạn dẫn trực tiếp - Đánh dấu từ ngữ được hiểu theo nghĩa đặc biệt hay có hàm ý mỉa mai. - Đánh dấu tên tác phẩm, tờ báo, tập san, được dẫn * THỰC HÀNH VIẾT ĐOẠN VĂN, BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI * Viết bất cứ chủ đề nào cũng tuân thủ 4 nội dung sau: - Thực trạng - Nguyên nhân - Tác hại (Hậu quả) - Phương hướng khắc phục * Các cách viết - Diễn dịch: Câu chủ đề nằm đầu đoạn. - Quy nạp: Câu chủ đề nằm cuối đoạn - Tổng- phân -hợp : Câu chủ đề nằm đầu đoạn và câu chốt (tương đương câu CĐ) nằm ở cuối đoạn. * Chủ đề 1. Tác hại của thuốc lá. + Thực trạng : - Hiện nay nhiều người chết sớm do hút thuốc - 1.3tr người Việt Nam rơi xuống mức đói nghèo và người hút mất12-25 năm tuổi thọ. + Nguyên nhân - Thiếu hiểu biết về tác hại thuốc lá - Quan niệm sai trái và suy nghĩ lêch lạc + Tác hại ( Hậu quả) - Đe dọa sức khỏe, tính mạng loài người (dẫn chứng : khói, chất oxitcacbon trong khói, chất hắc ín, chất nicôtin gây các cưn bệnh như: ung hủ phổi, nhồi máu cơtim, - Ảnh hưởng sức khỏe những người xung quanh và cộng đồng.
  5. - Dẫn đến sự bắt chước cho trẻ em. Hút thuốc, trôm cắp =>phạp pháp. - Giảm khả năng sinh sản nam và nữ. - Gây thiệt hại kinh tế lớn cho xã hội. + Phương hướng khắc phục - Cấm quảng cáo thuốc lá. - Phạt tiền những người hút - Tuyên truyền cho mọi người thấy tác hại thuốc lá * Chủ đề 2. Tác hại của sự gia tăng dân số + Thực trạng : - Dân số đang tăng nhanh và không đều - Nguy cơ bùng nổ dân số. + Nguyên nhân - Sự suy nghĩ sai trái, lệch lạc đông con là tốt... - Sinh đẻ không có kế hoạch. + Tác hại ( Hậu quả) - Ảnh hưởng đến đời sống cá nhân, gia đình và mọi mặt của đời sống xãhội.( không đủ lương thực, thực phẩm....) - Không đáp ứng được nhu cầu việc làm. + Phương hướng khắc phục - Kế hoạch hóa sự sinh đẻ, giảm tỉ lệ sinh. - Tuyên truyền tác hại của gia tăng dân số đến mọi người. * Chủ đề 3. Tác hại của ô nhiễm môi trường. + Thực trạng : - Ô nhiễm môi trường đang diễn ra khắp nơi. - Ô nhiễm môi trường chưa được quan tâm. + Nguyên nhân - Chặt phá rừng làm nương rẫy - Sử dụng bao ni lông và thuốc trừ sâu không hợp lý. - Ý thức bảo vệ môi trường sống chưa cao + Tác hại ( Hậu quả) - Ảnh hưởng sự phát triển của cây cối, xói mòn... - Gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, phát sinh các dịch bệnh. - Ảnh hưởng đến môi trường sống kém trong lành - Gây ảnh hưởng xấu đến mĩ quan, cảnh quan
  6. + Phương hướng khắc phục - Không sử dụng bao bì ni lông và các vật dụng làm ô nhiễm môi trường. - Tuyên truyền cho mọi người để cùng nhau bảo vệ môi trường sống. III.PHẦN TẬP LÀM VĂN: *Thực hành viết đoạn văn: - Từ VB “ Trong lòng mẹ” hãy nêu suy nghĩ của em về tình mẫu từ - Suy nghĩ của em về tình bạn đẹp -Từ VB “Ôn dịch, thuốc lá’ nêu suy nghĩ của em vể tác hại của việc hút thuốclá -Từ VB “ Thông tin trái đất năm 2000” trình bày suy nghĩ của em về tác hại của baobìni- lông với môi trường sống. - Từ VB “ Bài toàn dân số” trình bày suy nghĩ về ảnh hưởng của gia tăng dân số đốivới đời sống con người. *Ôn tập văn tự sự: -Kể lại kỉ niệm về ngày đầu tiên đi học -Người ấy( bạn, thầy, người thân ) sống mãi trong tôi -Kể lại một kỉ niệm đáng nhớ đối với một con vật nuôi mà em yêu thích. -Kể lại một lần mắc khuyết điểm khiến thầy, cô giáo buồn. -Kể lại một việc làm khiến cha mẹ vui lòng. *Ôn tập văn thuyết minh: -Thuyết minh về cây bút máy hoặc cây bút bi -Thuyết minh về chiếc phích nước -Giới thiệu chiếc áo dài VN -Giới thiệu chiếc nón lá VN -Thuyết minh về một loài cây ( hoặc loài hoa) mà em biết. LẬP DÀN Ý CHUNG: Văn tự sự: 1. Mở bài: Thường giới thiệu sự việc, nhân vật và tình huống xảy ra câu chuyện. (Cũng có khi nêu kết quả của sự việc , số phận nhân vật trước) 2. Thân bài: -Kể lại diễn biến câu chuyện theo một trình tự nhất định (Trả lời các câu hỏi: Câu chuyện đã diễn ra ở đâu? Khi nào? Với ai? Như thế nào?) -Trong khi kể , người viết thường kết hợp miêu tả sự việc , con người và thể hiện tình cảm , thái độ của mình trước sự việc và con người được miêu tả. c.Kết bài:
  7. Thường nêu kết cục và cảm nghĩ của người trong cuộc (người kể chuyện hay nhân vật nào đó) Văn thuyết minh: 1. Mở bài: Giới thiệu đối tượng thuyết minh 2. Thân bài: Trình bày nguồn gốc lịch sử, cấu tạo, đặc điểm, lợi ích của đối tượng. 3. Kết bài: bày tỏ thái độ đối với đối tượng. Ví dụ: Giới thiệu về chiếc nón lá Việt Nam a. Mở bài: nêu một định nghĩa về chiếc nón lá Việt Nam. b. Thân bài: -Hình dáng chiếc nón như thế nào? Nón được làm bằng nguyên liệu gì? Cách làm nón ra sao? Nón thường được sản xuất ở đâu? Vùng nào nổi tiếng về nghề làm nón? ( nón huế, nón Hà Tây ) -Nón có tác dụng như thế nào trong cuộc sống của người Việt Nam? -Em có biết điệu múa tên là múa nón là gì không? (Múa “Quê tôi”) -Em có nghĩ rằng nón đã trở thành biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam không? c.Kết bài: Cảm nghĩ về chiếc nón lá việt Nam. A, Đề bài : Giới thiệu về chiếc bút bi , Dàn bài + MB(1.5điểm) : Giới thiệu chung về chiếc bút + TB(7điểm): - Bút là vật dụng dùng để làm gì? - Có những loại bút gì ?(Bút chì ,bút bi,bút máy,bút lông ) - Kiểu dáng bút:có nắp, không có nắp thì như thế nào? • Cấu tạo của bút (ngòi ,thân, nắp,ruột ) • Chất liệu để làm bút là gì? (Nhựa, kim loại ) • Cách sử dụng và cách bảo quản + KB(1.5điểm) : Vai trò của chiếc bút trong đời sống với con người A, Đề bài : Thuyết minh về cái phích nước ( bình thuỷ) Lập dàn bài + MB : Phích nước là một vật dụng dùng để giữ nước nóng + TB : 1, Cấu tạo : • Vỏ của phích nước được làm bằng sắt hoặc bằng nhựa , có tranh trí đẹp mắt • Nắp phích bằng nhôm hoặc bằng nhựa
  8. • Nút phích thường bằng bấc hoặc bằng nhựa • Ruột phích làm bằng thuỷ tinh có tráng thuỷ tinh để giữ nhiệt độ luôn nóng 2, Sử dụng : • Ruột phích nước là bộ phận quan trọng nhất . Vì thế khi mua phích nước , ta nên mang nó ra ngoài ánh sáng nhìn suốt từ trên miệng xuống đáy , ta có thể nhìn thấy điểm sáng màu tím ở chổ van hút khí . Nếu điểm sáng càng nhỏ thì chứng tỏ công nghệ sản xuất van hút khí càng tốt vì thế càng giữ nhiệt tốt hơn • Phích nước mới mua về không nên đổ nước sôi vào ngay vìđang lặn mà gặp nóng đột ngột , phích nước dễ bị nứt bể . Ta nên chế nước ấm khoảng 50-69 độ vào trước 30 phút , rồi sau đó mới chế nước nóng vào 3, Bảo quản • Khi phích đựng nước dùng lâu , bên trong sẽ xuất hiện cáu bẩn . Ta có thể đổ vào trong phích một ít giấm nóng , đậy chặt nắp lại , lắc nhẹ rồi để khoảng 30 phút , sau đó dùng nước lạnh rữa sạch , chất cáu bẩn sẽ được tẩy hết • Nếu ta muốn phích nước giữ được nước sôi lâu hơn , khi đổ nước vào phích , ta chớ rót đầy . Hãy để một khoảng cách giữa nước sôi và nút phích vì hệ số truyền nhiệt của nước lớn hơn không khí gần bằng 4 lần . Cho nên nếu rót đầy nước sôi , nhiệt dễ truyền ra vỏ phích nhờ môi giới của nước . Nếu có một khoảng trống , không khí sẽ làm cho nhiệt truyền chậm hơn . + Kb : Phích nước là 1 vật dụng rất cần thiết cho mọi người trong sinh hoạt hằng ngày Đề: Thuyết minh về một loài cây (loài hoa) * Mở bài: Giới thiệu chung về loài hoa đó: Hoa gì, có ý nghĩa như thếnàođối với đời sống con người? *Thân bài; Nêu cụ thể: - Nguồn gốc xuất xứ - Đặc điểm- câu tạo- Chủng loại - cách gieo trồng cách chăm sóc - Giá trị của cây: giá trị kinh tế, giá trị tinh thần *Kết bài: Nêu nhận xét chung về lào cây đó. MỘT SỐ ĐỀ THAM KHẢO. ĐỀ 1: Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi: “ Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường. Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng” Câu1. (1 điểm)Đoạn trích trên thuộc văn bản nào đã học? Cho biết tác giả của đoạn trích đó là ai? Văn bản thuộc thể loại gì ? Chủ đề của văn bản đólàgì?
  9. Câu 2: ( 1 điểm)Hãy tìm những từ láy được sử dụng trong đoạn văn trên? Biện pháp tu từ nào cũng được sử dụng trong đoạn trích? Câu 3: (2 điểm)Viết một đoạn văn ngắn (từ 5 đến 7 câu) kểvề kỉ niệm trong ngày khai trường đầu tiên của em có sử dụng ít nhất là một từ tượng hình, một từ tượng thanh và gạch chân. Câu 4: (6 điểm)Thuyết minh về cây bút bi. ĐỀ 2: Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi: Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn Lừng lẫy làm cho lở núi non Xách búa đánh tan năm bảy đống Ra tay đập bể mấy trăm hòn Tháng ngày bao quản thân sành sỏi Mưa nắng càng bền dạ sắt son Những kẻ vá trời khi lỡ bước Gian nan chi kể việc con con. Câu 1: (1 điềm)Bài thơ có tên là gì? Ai là người sáng tác bài thơ? Sáng tácvào thời iang nào?Cho biết tên của thể thơ là gì? Câu 2: (1 điểm)Tìm những động từ được sử dụng trong bài thơ trên? Bài thơlàm hiện lên hình ảnh người tù ở đây như thế nào? Câu 3: (2.5 điểm)Viết một đoạn văn ngắn (5-7 câu) nêu cảm nghĩ của em về bài thơ, có sử dụng thán từ, gạch chân thán từđó. Câu 4: (5.5 điểm)Thuyết minh về loài cây mà em yêu quí. . Đề 1: I. ĐỌC HỈỂU (3 điểm) Cho đoạn văn sau: “ Em tḥật àl một con bé hư, chị Xiu thân yêu”, Giôn –xi nói” Có một cái gì đ́ấy đã làm cho chíếc ál cuối cùng vẫn còn đó để cho em th́ây rằng mình đã như th́ế àn o. Muốn ch́ết là một tội. Giờ thì chị có th̉ể cho em xin tí cháo và chút sữa pha ít rượu vang đỏ và – khoan – đưa cho em chíếc gương tay trước đã, rồi xêp mấy chíếc gối lại quanh em ,để em ngồi dậy xem chị nấu nướng”. Một tíếng đồng hồ sau cô nói: “Chị Xiu thân yêu ơi, một ngày nào đó em hy vọng sẽ được vẽ vịnh Na-plơ” 1.Đoạn văn trên được trích từ văn bản nào ? Của ai? Phương thức bỉểu đạt nào được sử dụng trong đoạn văn? Nội dung khái quát của đoạn văn trên là gì 2.Từ nội dung của đoạn văn trên em hãy víết một đoạn văn tự sự ( 10 đ́ến 12 câu ) nêu suy nghĩ của em v̉ề một tình bạn đẹp . II: TẬP LÀM VĂN (7 điểm)
  10. Giới thiệu về ngày tết ở quê hương em. I. ĐỌC HỈỂU ( 3 ĐIỂM ) Cho đoạn văn sau: Mẹ tôi lấy vạt áo nâu thấm nước mắt cho tơi rồi xốc nách tôi lên xe .Đến bấy giờ ôt i mới kịp nḥân ra mẹ tôi không còm cõi xơ xác quá như cô tôi nhắc lại lời người họ nôi của tôi. Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng vơi đôi mắt trong với nước da mịn, làm nổi bât màu hồng của hai gò má.. Hay tại sự sung sướng bỗng được trông nhìn và ôm ́ấp cái hình hài máu mủ của mình mà mẹ tôi lại tươi đẹp như thuở còn sung túc? Tôi ngồi trn đệ̣ m xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi th́ấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt. Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn mịệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường. 1. Đoạn văn trên trích từ văn bản nào, của ai? Phương thức bỉểu đạt chính là gì? Nội dung khái quát của đoạn văn trên là gì ? 2. Từ nội dung của đoạn văn trên hãy víết một đoạn văn tự sự trình bày suy nghĩ của em về ìt nh mẫu tử ? II: TẬP LÀM VĂN (7 điểm) Giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam GỢI Ý TRẢ LỜI : a/ Mở bài: Giới thiệu áo dài là một trong những trang phục truyền thống rấtđẹp của người Việt Nam. b/ Thân bài (4đ). - Giới thiệu nguồn gốc của chiếc áo dài: + Xuất hiện từ thời gian nào? + Đối tượng sử dụng: + Tên gọi (kiểu áo) + Chất liệu vải. - Quá trình phát triển rất đa dạng: + Xưa: + Nay: c/ Kết bài: áo dài Việt Nam ngày nay vẫn giữ được bản sắc truyền thống trở thành biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam. Đ̀ Ề 3: I. ĐỌC HIỂU: 3điểm
  11. Cho đoạn văn sau: “Chao ơi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi tòan những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương; không bao giờ ta thương Vợ tôi không ác nhưng thị khổ quá rồi. Một người đau chân có khi nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến mộtcái gì khác đâu? Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất.” (Ngữ văn 8- Tập1- NXB Gio dục) Câu 1. Đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Của ai? Tác phẩm được ra đời trong thời gian nào? Những suy nghĩ trong đoạn văn trên là của nhân vật nào? Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn trên là gì? Nêu nội dung chính của đoạn văn? Câu 2.Từ nội dung của đoạn văn trên, em có suy nghĩ gì về cách nhìn nhận, đánh giá con người trong xã hội hiện nay? II.Tạo lập văn bản (7đ) Đề àb i: Hãy kể về một kỉ niệm đáng nhớ đối với một con vật nuôi mà em yêu thích. * GỢI Ý TRẢ LỜI: I ĐỌC HIỂU - Tác phẩm ra đời trong giai đoạn 1930 - 1945(trước cách mạng Tháng Tám) - Ông giáo. - Nghị luận. - Nội dung chính: nêu lên những suy nghĩ rất tiến bộ, tích cực, đầy tính nhân văn củaông giáo về lão Hạc, về vợ của mình và những người xung quanh. - Trong xã hội ngày nay con người có rất nhiều các mối quan hệ phứctạp cho nên chúng ta phải nhìn nhận, xem xét một cách khách quan, đa chiều, không phiến diện chủ quan; đặt mình vào họ để hiểu họ, từ đó mới có sự đánh gái công bằng, chính xác. Quanđiểm của ông giáo, của nhà văn Nam Cao vẫn còn nguyên giá trị. II.Tập làm văn. MB: Giới thiệu tổng quát về con vật nuôi mà em yêu thích, nguồn gốc, xuất xứ của con vật nuôi. TB: Kể lại diễn biến câu chuyện theo một trình tự nhất định. Trong khi kể kết hợp vớimiêutả sự việc, con người, thể hiện tình cảm, cảm xúc thi độ củabản thân trước sự việc và con vật được kể . - Miêu tả vật nuôi: tên con vật nuôi, bao nhiêu tuổi, thân hình to hay nhỏ? Màu lông ra sao? Thói quen? - Nguồn gốc của vật nuôi: Vật nuôi đó của ông, bà, bố mẹ mua hoặc những người thân biếu tặng. - Tình cảm của em với vật nuôi đó? Yêu hay ghét? Vì sao?
  12. - Kể lại kỉ niệm sâu sắc với vật nuôi. +Kỉ niệm gì đã xảy ra? Khi nào? +Diễn biến kỉ niệm? +Bài học rút ra từ kỉ niệm KB:-Suy nghĩ của em về vật nuôi. -Tình cảm của em với nó. BÀI MẪU THUYẾT MINH VỀ CHIẾC NÓN LÁ “Quê hương là cầu tre nhỏ Mẹ về nón lá nghiêng che”. Nón lá là một vật dụng quen thuộc đã đi vào thơ ca Việt Nam tự bao giờ. Nón lá đã góp phần tạo nên vẻ đẹp, duyên dáng cho người phụ nữ Việt Nam. Nón lá Việt Nam có lịch sử lâu đời, hình ảnh tiền thân của nón lá được tìm thấy trên trống đồng Ngọc Lữ và tháp đồng Đào Thịnh. Từ xa xưa do chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nắng lắm mưa nhiều, tổ tiên ta đã biết lấy lá kết vào nhau để là vật dụng đội lên đầu che nắng che mưa. Dần dần chiếc nón lá đã hiện diện như một vật dụng cần thiết trong đời sống sinh hoạt hằng ngày. Để làm được một chiếc nón lá đẹp thì việc chuẩn bị nguyên liệu cũng rất quan trọng là lá nón( hoặc có nơi dùng lá cọ), lá buông- một loại lá họ hàng với lá cọ( thường mọc ở vùng đồi núi trung du). Ngoài ra còn cần đến tre, nứa, cước. Để làm nón đẹp khâu chọn lá rất quan trọng. Lá nón màu trắng sữa, gân lá màu xanh nhẹ, lá bóng mượt là đẹp nhất. Người ta thường khai thác lá nón ở vùng đồi núi Phú Thọ, Vĩnh Phúc hay vùng đồi núi Việt Bắc, Trường Sơn, Tây Bắc. Sau khi cắt lá về phải xử lí đúng quy trình kĩ thuật. Đầu tiên phải sấy khô lá bằng than củi sau đó phơi sương cho lá mềm. Khi lá đạt độ mềm đúng yêu cầu, dùng gang nóng bọc trong túi vải, là cho phẳng phiu. Sau đó người làm nón lại cẩn thận chọn lọc lá một lần nữa cho đồng màu, cắt bớt đầu đuôi để dài khoảng 50 cm. Để làm nón người thợ phải vô cùng khéo léo và tỉ mỉ. Người ta dùng 16 vành tre chuốt nhỏ, mỏng, dễ uốn, cuốn lần lượt từ thấp đến cao và nan lớn rồi nan nhỏ để dựng thành khung nón có hình chóp nhọn. Khung nón được làm như vậy sẽ tạo dáng nón thanh thoát, hài hòa làm tôn lên vẻ đẹp của người đội nón. Dân gian có câu “ Đẹp nón nhờ người thắt, đẹp mặt nhờ người khuôn”.Sau khung làm khuôn là khâu lợp lá nón. Công đoạn này đòi hỏi người thợ phải thật khéo tay làm sao để nón lá phân bố đều trên khung, hình dáng cân đối và khi khâu lá nón không bị chồng lên nhau. Cuối cùng là công đoạn khâu nón, chỉ khâu bằng loại cước nhỏ trắng muốt. Người khâu phải căn cho mũi chỉ đều tăm tắp, uốn theo vành nón. Người thợ còn kì công thêu hình
  13. ảnh những cô thiếu nữ, đóa hoa hay cảnh đẹp quê hương có khi là cả một bài thơ. Một chiếc nón ẹđ p là cả sự chăm chút của người làm nón. Ở nước ta có rất nhiều địa phương làm nón lá nổi tiếng. Ở miền Bắc có làng Chuông, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội. Miền Trung có làng nón Ba Đồn Quảng Nam và đặc biệt là nón bài thơ của Thừa Thiên Huế. Với người Việt Nam đặc biệt là những người nông dân, nón lá là vật dụng cần thiết. Nón lá dùng để che nắng, che mưa khi làm đồng, dùng thay chiếc quạt khi nghỉ giải lao trên đồng ruộng. Với các cô gái, chiếc nón lá cùng với tà áo dài làm tôn lên vẻ kín đáo, dịu dàng. Nón lá là món đồ trang sức không cầu kì đắt tiền mà đẹp một vẻ đẹp giản dị, mộc mạc như chính tâm hồn con người Việt Nam. Đâu đâu ta cũng thấy thấp thoáng những chiếc nón lá dù là đi chợ hay đi hội ta đều gặp các bà, các mẹ dưới nón lá nghiêng che. Nón lá cũng làậ v t dụng mà mẹ chồng trao cho con dâu trước khi về nhà chồng để cầu chúc cho cuộc sống vợ chồng trăm năm bền chặt. Đó cũng là món quà lưu niệm mà du khách nước ngoài mang về để tặng cho người thân. Nón được làm bằng lá nên khi sử dụng cần nhẹ nhàng, khi không dùng thì treo lên cao, tránh để rơi, dễ bị méo, thủng. Khi trời mưa có thể bọc ngoài nón một lớp túi bóng trắng mỏng, nếu bị ướt thì phơi khô tránh bị ố vàng. Ngày nay có rất nhiều vật dụng như mũ, ô ra đời dần dần có thể thay thế nón nhưng hình ảnh chiếc nón vẫn chiếm một vị rí quan trọng trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam để rồi mỗi chúng ta cần có thái độ tôn trọng nét đẹp truyền thống này. THUYẾT MINH VỀ CHIẾC ÁO DÀI Mở bài - Nêu lên đối tượng: Chiếc áo dài VN VD: Trên thế giới, mỗi Quốc gia đều có một trang phục của riêng mình. Từ xưa đến nay, chiếc áo dài đãở tr thành trang phục truyền thống của phụ nữ Việt Nam. II. Thân Bài 1. Nguồn gốc, xuất xứ + Ko ai biết chính xác áo dài có từ bao giờ + Bắt nguồn từ áo tứ thân Trung Quốc + Căn cứ vào sử liệu, văn chương, điêu khắc, hội hoa, sân khấu dân gian chúng ta đã thấy hình ảnh tà áo dài qua nhiều giai đoạn lịch sử - Tiền thân của áo dài VN là chiếc áo giao lãnh, hơi giống áo từ thân, sau đó qua lao động, sản xuất chiếc áo giao lãnh mới được chỉnh sửa để phù hợp với đặc thù lao động -> áo tứ thân và ngũ thân.
  14. - Người có công khai sáng là định hình chiếc áo dài Việt Nam là chúa Nguyễn Phúc Khoát. Chiếc áo dài đầu tiên được thiết kế tại thời điểm này là sự kết hợp giữa váy của người Chăm và chiếc váy sườn xám của người trung hoa.=> áo dài đã có từ rất lâu. 2. Hiện tại + Tuy đã xuất hiện rất nhiều những mẫu mã thời trang, nhưng chiếc áo dài vẫn giữ được tầm quan trọng của nó, và trở thành bộ lễ phục của các bà các cô mặc trong các dịp lễ đặc biệt.. + Đã được tổ chức Unesco công nhận là một di sản Văn Hoá phi vật thể, là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam. 3. Hình dáng - Cấu tạo * Áo dài từ cổ xuống đến chân * Cổ áo may theo kiểu cổ Tàu, cũng có khi là cổ thuyền, cổ tròn theo sở thích của người mặc. Khi mặc, cổ áo ôm khít lấy cổ, tạo vẻ kín đáo. * Khuy áo thường dùng bằng khuy bấm, từ cổ chéo sang vai rồi kéo xuống ngang hông. * Thân áo gồm 2 phần: Thân trước và thân sau, dài suốt từ trên xuống gần mắt cá chân. * Áo được may bằng vải một màu thì thân trước thân sau sẽ được trang trí hoa văn cho áo thêm rực rỡ. * Thân áo may sát vào form người, khi mặc, áo ôm sát vào vòng eo, làm nổi bật những đường cong gợi cảm của người phụ nữ. * Tay áo dài ko có cầu vai, may liền, kéo dài từ cổ áo --> cổ tay. * Tà áo xẻ dài từ trên xuống, giúp người mặc đi lại dễ dàng, thướt tha, uyển chuyển. * Áo dài thường mặc với quần đồng màu hoặc màu trắng bằng lụa, sa tanh, phi bóng....với trang phục đó, người phụ nữ sẽ trở nên đài các, quý phái hơn. - Thợ may áo dài phải là người có tay nghề cao, thợ khéo tay sẽ khiến áo dài khi mặc vào ôm sát form người. - Áo dài gắn liền tên tuổi của những nhà may nổi tiếng như Thuý An, Hồng Nhung, Mỹ Hào, ....., đặc biệt là áo dài Huế màu tím nhẹ nhàng - Chất liệu vải phong phú, đa dạng, nhưng đều có đặc điểm là mềm, nhẹ, thoáng mát. Thường là nhiễu, voan, nhất là lụa tơ tằm - Màu sắc sặc sỡ như đỏ hồng, cũng có khi nhẹ nhàng, thanh khiết như trắng, xanh nhạt. Tuỳ theo sở thích, độ tuổi. Thường các bà, các chị chọn tiết dê đỏ thẫm 4. Áo dài trong mắt người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế
  15. - Từ xưa đến nay, áo dài luôn được tôn trọng, nâng niu. - Phụ nữ nước ngoài rất thích áo dài 5. Tương lai của tà áo dài III. Kết bài Cảm nghĩ về tà áo dài, ... Giới thiệu về chiếc Áo dài Việt Nam ngắn gọn Bài 1 Trên trái đất này, mỗi quốc gia đều có một trang phục truyền thống của riêng mình.Việt Nam ta cũng vậy, tà áo dài của chúng ta đã là trang phục cổ truyền có từ thời xa xưa cho đến tận ngày nay. Cho dù đã trải qua không ít thăng trầm của lịch sử nhưng giá trị của nó vẫn rất nguyên vẹn. Nó đã tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Ngày nay, tuy không ít những mẫu mã thời trang, nhưng chiếc áo dài vẫn giữ một vị trí rất quan trọng không những chỉ trong làng thời trang trong nước mà ngay cả trên thế giới. Nó đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể và đã trở thành một biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam hiền hòa mà nhân hậu. Nguồn gốc của chiếc áo dài đã có từ rất xa xưa, không ai biết thời điểm chính xác là từ khi nào, chỉ có thể biết rằng nó được bắt nguồn từ chiếc áo tứ thân vốn đã có từ lâu đời của dân tộc ta. Qua sử liệu, qua văn chương, qua các loại hình nghệ thuật : điêu khắc, hội họa, sân khấu dân gian, chúng ta đã trông thấy hình ảnh của chiếc áo dài qua các giai đoạn phát triển của người dân Việt Nam Chiếc áo dài phù hợp với mọi lứa tuổi, và mọi tầng lớp của xã hội. Từ người giàu cho đến người nghèo, từ trẻ con cho đến các cụ già đều có thể mặc áo dài. Đối với mỗi độ tuổi, áo dài lại có các cách thức và kiểu may phù hợp, giúp người mặc nó cảm thấy tự tin và xinh đẹp hơn. Ngày nay, chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp thấy những em bé gái xinh xắn, và đáng yêu hơn trong bộ áo dài bằng gấm, có những màu sắc đa dạng như : hồng, đỏ, xanh cùng những chiếc quần màu trắng hoặc cùng màu áo, ở trong các cuộc nghi lễ sang trọng trông chúng thật ngộ nghĩnh và dễ thương. Còn đối với các thiếu nữ thì tà áo dài lại càng tôn lên sự cân đối của sự uyển chuyển vốn có của mình. Họ thướt tha trong chiếc áo mềm mại và chiếc quần trắng càng làm tôn lên vẻ tinh khiết và sự trắng trong. Áo dài may bằng nhiều thứ vải khác nhau : gấm Thái Tuấn, lụa tơ tằm, nhung, lụa, Các kiểu may rất đa dạng và cũng có thể cách điệu như cổ ba phân hay một phần, cổ thuyền, cổ tròn tuy không màu mè nhưng vẫn rất trẻ trung, thanh tú. Còn với những cô, những bác trung niên thì tà áo dài còn giúp họ thấy sự đứng đắn, lịch lãm và trang trọng. Nhưng
  16. với các cụ có tuổi thì có thể mặc áo dài màu nâu hay bằng nhung, lụa, đi kèm là quần đen sẽ cảm thấy lịch sự và trang nhã không kém. Tà áo dài càng ngày càng có nhiều kiểu cách để ta lựa chọn nhưng dù thế nào thì nó vẫn giữ được vẻ đẹp vốn có của mình. Tà áo dài là niềm hãnh diện của người Việt Nam không chỉ ở đất nước mình mà còn là khắp năm châu bốn biển. Giờ đây, mỗi chúng ta phải biết giữ gìn, bảo vệ nó như di sản văn hóa của dân tộc mình. Chắc chắn, chiếc áo dài mãi mãi đẹp và trường tồn theo thời gian. Bài 2 Tục ngữ Việt Nam có câu "Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân". Suy ngẫm nhiều, chúng ta thấy đúng là y phục góp phần quan trọng vào vẻ đẹp mỗi con người, góp phần quan trọng vào dáng vẻ thướt tha của phụ nữ. Một trong những kiểu y phục ấy là chiếc áo dài Việt Nam. Áo dài Việt Nam có từ rất xa xưa, theo từng thời kì lịch sử mà chiếc áo dài có những hình dáng khác nhau và thay đổi theo từng phương. Miền Bắc ngày xưa có kiểu áo dài viền năm tà, miền Trung lại có một kiểu sợi dây cột ngang lưng, miền Nam cũng có áo dài cổ cao theo một cách đặc biệt. Đến đầu thế kỉ XX, áo dài Việt Nam lần này được thiết kế lại với hai tà ôm sát thân mình. Cách may cắt cũng ngày càng tinh xảo hơn để bớt đi những chỗ lòng thòng, những nếp nhăn, số lượng nhiều tà chỉ còn lại hai tà phía trước và phía sau, sợi dây cột ngang lưng cũng được bỏ đi. Theo thời, có lúc tà áo dài đến mắt cá, có lúc tà áo thủ lên ngang gần đầu gối, có lúc tà rộng, có lúc tà hẹp. Những năm đầu thế kỉ này, tà áo dài theo hai khuynh hướng. Phối hợp với y phục phương Tây, các nhà tạo mẫu cho ra đời những kiểu áo dài kéo sau lưng, những kiểu áo trái tim, kiểu cổ truyền. Một khuynh hướng khác là trở về nguồn. Các nhà tạo mẫu dùng những hoa văn hình chim hạc để thiết kế ở thân trước áo dài, cổ áo dài hoặc dùng những hoa văn trên thổ cẩm để làm viền, tạo nên những chiếc áo dài vừa duyên dáng vừa cổ điển, vừa hiện đại. Trang phục kèm áo dài cũng thay đổi theo thời gian như quần màu đen, trắng hòa cùng màu với áo, khăn đóng ngày nay thay thế bằng vương miện dùng trong ngày cưới của cô dâu. Nhờ sự khéo léo của những nhà thiết kế, chiếc áo dài Việt Nam đã tôn thêm vẻ đẹp dịu dàng và thể hiện nét kín đáo thiết tha của người phụ nữ. Vì sao vậy? Phần trên thường kín cổ, thể hiện vẻ kín đáo nhưng cũng làm hiện lên bờ vai và đôi tay trắng thon dài của cô gái. Nhờ cắt may khéo léo, phần trên chiếc áo thể hiện nét đẹp khỏe mạnh gọn gàng và thùy mị của cô gái Việt Nam, đồng thời hai tà áo lúc mở lúc khép, quấn quýt theo làn gió, tạo vẻ thướt tha dịu dàng của chiếc áo dài. Nét đẹp đó làm say mê bao văn nhân, thi sĩ Việt Nam, làm say mê bao khách nước ngoài khi giao dịch, tham quan du lịch Việt Nam, nhà thơ Nguyên Sa từng viết:
  17. Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng Thơ anh viết vẫn nguyên màu lụa trắng! Cố nhạc sĩ Văn Cao cũng đưa hình ảnh áo dài Việt Nam vào trong bài "Bến xuân" của mình: Tà áo em rung trong giấc mộng ngập ngừng ngoài bến xuân. Hiện nay, tuy nước ta đã theo nhiều trào lưu y phục phương Tây nhưng phụ nữ Việt Nam vẫn không quên giữ gìn và phát huy vẻ đẹp của chiếc áo dài. Trong vài thập niên gần đây, tà áo dài đã' là đồng phục quy định của nhiều công sở và trường học. Ngay cả những dịp quan trọng như ngày Tết, ngày lễ, ngày cưới, người ta cũng dùng áo dài làm trang phục chính. Với những loại vải quý phái, chất liệu đặc biệt như tơ tằm, lụa với màu sắc lộng lẫy hoặc như hòa, chiếc áo dài làm tăng thêm vẻ sang trọng và tươi đẹp cho người phụ nữ Việt Nam. Áo dài Việt Nam là một trong những nét đẹp truyền thống, gắn liền với phong tục và văn hóa của người Việt Nam. Bảo vệ nét đẹp áo dài Việt Nam là bảo vệ văn hóa và phong tục Áo dài là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam. Áo dài mang lại nét đẹp duyên dáng, đằm thắm làm say lòng người của người phụ nữ Việt. Bởi vậy đã có biết bao nhà thơ, nhà văn hết lời ca ngợi: "Có phải em mang trên áo bay Hai phần gió thổi một phần mây Hay là em gói mây trong áo Rồi thở cho làn áo trắng bay" (Tương tư - Nguyên Bá) Trải qua bao thế kỉ chiếc áo dài đã cóề nhi u thay đổi so với tổ tiên nó trước đây. Không ai biết rõ nguồn gốc nguyên thủy của chiếc áo dài vì chưa có tài liệu ghi nhận. Những kiểu sơ khai nhất của chiếc áo dài là chiếc áo giao lãnh. Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát là người được xem là có công sáng chế chiếc áo dài và định hình chiếc áo dài Việt Nam. Chính do sự di cư của người Minh Hương mà chúa Nguyễn Phúc Khoát đã cho ra đời chiếc áo dài giao lãnh để tạo nét riêng cho dân tộc Việt. "Thường phục thì đàn ông, đàn bà mặc áo cổ đứng, ngắn tay, cửa ống tay rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền, không được sẻ mở"...(Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên) - đây là bằng chứng lịch sử cho ta thấy chúa Nguyễn Phúc Khoát đã cho ra đời chiếc áo giao lãnh như thế nào. Qua bao giai đoạn thăng trầm của lịch sử áo dài đã thay đổi rất nhiều. Như đã nói ở trên, chiếc áo giao lãnh được coi là chiếc áo dài đầu tiên. Áo này cũng tương tự như áo tứ thân nhưng khi mặc hai tà không được buộc vào nhau. Áo mặc phủ ngoài yếm lót, váy tơ đen,
  18. thắt lưng màu buông thả, cùng với váy thâm đen. Vì phải làm việc đồng áng hoặc buôn bán nên khi mặc chiếc áo giao lãnh được thu gọn thành áo tứ thân với hai tà trước được thả nay cột gọn gàng mặc cùng váy xắn quai cồng tiện việc lao động. Đối với phụ nữ nông dân áo tứ thân được mặc rất đơn giản với áo yếm ở trong, áo ngoài cột tà và thắt lưng. Mặc kèm với áo thường là chiếc khăn mỏ quạ đen tuyền. Trong khi đó, áo tứ thân dành cho tầng lớp quý tộc lại rất nhiều chi tiết. Mặc ngoài cùng là chiếc áo the thâm màu nâu non, chiếc áo thứ hai màu mỡ gà, chiếc áo thứ ba màu cánh sen. Khi mặc thường không cài kín cổ, để lộ ba màu áo. Bên trong mặc chiếc yếm màu đỏ thắm. Thắt lưng lụa màu hồng đào hoặc thiên lý. Áo mặc với váy màu đen, đầu đội nón quai thao càng làm tăng thêm nét duyên dáng của người phụ nữ. Nhưng sau một thời gian áo tứ thân được cách tân ểđ giảm chế nét dân dã lao động và tăng dáng dấp sang trọng khuê các. Thế là chiếc áo ngũ thân ra đời. Áo ngũ thân được cải tiến ở chỗ vạt nửa trước phải nay được thu bé thành vạt con; thêm một vạt thứ năm be bé nằm ở dưới vạt trước. Áo che kín thân hình không để hở áo lót. Mỗi vạt có hai thân nối sống tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu và vạt con nằm dưới vạt trước tượng trưng cho người mặc. Năm hột nút nằm cân xứng trên năm vị trí cố định, giữ cho chiếc áo được ngay thẳng, kín đáo tượng trưng cho năm đạo làm người: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Nhưng đến thời Pháp thuộc, chiếc áo đài lại một lần nữa thay đổi. "Lemur" là tên tiếng Pháp để chỉ chiếc áo dài cách tân. Chiếc áo dài này do người họa sĩ có tên là Cát Tường sáng tạo ra. Bốn vạt trước và sau thu gọn thành hai tà trước sau. Vạt trước dài chấm đất tăng thêm sự duyên dáng và uyển chuyển. Hàng nút phía trước của áo được chuyển dọc qua hai vai và chạy dọc một bên sườn. Áo may ráp vai, tay phồng, cổ bồng hoặc hở. Để cho đúng mốt, áo Cát Tường phải mặc với quần sa tanh trắng, đi giày cao, cầm bóp đầm. Do xã hội vẫn còn chưa cởi mở với cách ăn mặc này nên chiếc áo không được nhiều người chấp nhận vì họ cho là "đĩ thõa" (phản ánh của Vũ Trọng Phụng trong tác phẩm, "Số đỏ" đã chứng minh điều đó). Năm 1943, họa sĩ Lê Phổ đã bỏ bớt những nét cứng nhắc của áo Cát Tường, đưa thêm một số yếu tố dân tộc của áo tứ thân, ngũ thân đã tạo ra kiểu áo vạt dài cổ kính, ôm sát thân người, trong khi hai vạt trước tự do bay lượn. Sự dung hòa này được giới nữ thời đó hoan nghênh nhiệt liệt. Từ đấy, áo dài Việt Nam đã tìm được hình hài chuẩn mực của nó và từ đấy đến nay dù trải qua bao thăng trầm, bao lần cách tân, hình dạng chiếc áo dài về cơ bản vẫn được giữ nguyên. Cho tới ngày nay, chiếc áo dài đã được thay đổi rất nhiều. Cổ áo cổ điển cao 4 - 5cm, khoét hình chữ V trước cổ. Cổ áo làm tăng thêm nét đẹp của chiếc cổ cao ba ngấn trắng ngần của người phụ nữ. Phần eo được chít ben làm nổi bật đường cong thon thả của chiếc lưng ong của người phụ nữ. Cúc áo là loại cúc bấm, được bố trí cài từ cổ qua vai xuống eo. Từ eo, thân áo được xẻ thành hai tà dài đến mắt cá chân. Ống tay áo may từ vai ôm sát cánh tay dài qua khỏi cổ tay. Áo thường mặc với quần lụa có màu sắc hài hòa với áo. Áo dài thường được may bằng lụa tơ tằm, suông, voan, rất phong phú. Nhưng có sự lựa chọn chung là nên chọn loại vải mềm, rũ. Để làm tăng thêm nét duyên dáng, khi mặc áo dài phụ nữ thường đội nón lá. Ở đồng bằng Nam bộ, áo dài được cải biên thành áo bà ba mặc với quần đen ống rộng để tiện việc lao động.
  19. Chiếc áo dài là một trang phục không thể thiếu được của người phụ nữ ngày nay. Nó không chỉ là trang phục dân tộc mà còn là trang phục công sở của giáo viên, nữ sinh, nhân viên ngân hàng, tiếp viên hàng không. Áo dài còn được mặc khi đi dạo phố, những buổihọp mặt quan trọng như lễ cưới chẳng hạn. Ngay cả cô dâu trong nghi thức bái gia tiên cũng không thể thiếu bộ trang phục này. Do được may bằng chất liệu vải mềm nên áo dài cần được bảo quản cẩn thận. Chỉ nên giặt áo dài bằng tay, giữ cho áo ráo nước và phơi ngoài nắng nhẹ, tránh nắng gắt vì áo dễ bạc màu. Dùng bàn ủi ủi với nhiệt độ thích hợp tránh nóng quá làm cháy áo. Luôn cất áo vào tủ cẩn thận giúp áo bền, đẹp và mới lâu. Nên giặt áo ngay sau khi mặc, treo bằng móc áo, nếu gấp phải gấp cẩn thận tránh làm gãy cổ áo. Áo dài là quốc phục của nước Việt Nam, là niềm tự hào của dân tộc Việt. Dù thời gian có đổi thay, những mẫu trang phục ngày càng đa dạng và hiện đại nhưng trên khắp nẻo đường ở đất nước bình yên này, tà áo dài vẫn nhẹ nhàng tung bay mang theo nét đẹp, nét duyên dáng của người phụ nữ Việt Nam. Bài 3 Chiếc áo dài là biểu tượng tuyệt đẹp của nền văn hoá dân tộc, là niềm tự hào của con người Việt Nam chúng ta. Áo dài ra đời từ rất lâu, nó đã trải qua các thời kì cải biến để đạt đến độ thẩm mĩ như ngày nay. Kiểu sơ khai là áo giao lành, được người phụ nữ mặc phủ ngoài yếm đào, váy lụa đen, thắt lưng buông thả. Nhưng để tiện cho việc làm ăn, việc đồng áng, áo giao lành được thu gọn thành áo tứ thân. Sau đó, nó được biến thành áo ngũ thân để các cô, các bà mặc trong lễ hội mùa xuân. Đến thời chúa Nguyễn xứ Đàng Trong, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát ban hành sắc dụ về y phục, thì chiếc áo dài có cổ đứng ngắn tay, cứa ống tay rộng hoặc hẹp, hai bên nách trở xuống khâu kín, không xẻ tà. Từ đó, áo dài được cải tiến theo nhiều kiểu, ngày một trở nên xinh đẹp, thướt tha. Áo dài được may bằng nhiều chất liệu như gấm, nhung, lụa tơ tằm. Hiện nay, các nhà thiết kế y phục đã sáng tạo ra nhiều kiểu áo dài tân thời, cổ áo cài khuy. Khuy áo là hạt cườm, hạt ngọc, cúc bấm. Tay áo dài không có cầu vai, may liền với cổ áo giống như áo bà ba xẻ tà. Chính đặc điểm này khiến việc sinh hoạt của ngực phụ nữ được dễ dàng, đồng thời tạo dáng thanh thoát, yểu điệu, thướt tha. Giêng hai, bước vào hội xuân, trên mọi nẻo đường quê Kinh Bắc, xứ Đông xứ Đoài... ta bắt gặp các bà, các cụ trong bộ áo quần dài bằng lụa nâu, vai khoa; túi đi đến chùa lễ Phật. Hội chùa Hương, hội Gióng, hội chùa Dâu, hội Lim,... từng đoàn thiếu nữ, thanh nữ thướt tha trong bộ áo dài tuyệt đẹp. Trong các lễ chào cờ, các ngày lễ được tổ chức ở sân trường, nhất là các trường Trung học phổ thông hàng nghìn nữ sinh và cô giáo trong chiếc áo dài trắng, quần trắng gợi lên vẻ đẹp tinh khôi, trinh trắng của thế hệ tuổi xuân.
  20. Chiếc áo dài mãi mãi là niềm tự hào và hãnh diện của mỗi con người Việt Nam chúng ta. Vẻ đẹp chiếc áo dài gợi lên vẻ đẹp văn hoá truyền thống của đất nước và con người Việt Nam. Trên con đường hội nhập, có thể y phục của mỗi con người Việt Nam trở nên phong phú, đa dạng, hiện đại, nhưng chiếc áo dài tân thời sẽ mãi mãi gắn bó với tâm hồn người phụ nữ Việt Nam, làm tôn vẻ đẹp kiêu sa, duyên dáng của các thiếu nữ, thanh nữ trong lễ hội.của ta vậy. Thuyết minh về cây bút bi Đối với học sinh chúng ta ngoài vở viết, thước kẻ, thì bút bi là người bạn đồng hành không thể thiếu trong quá trình học tập. Sử dụng bút bi hàng ngày nhưng không phải ai cũng ắn m được nguồn gốc ra đời cũng như cấu tạo của cây bút bi. Để hiểu rõ hơn ềv người bạn thân thiết này chúng ta hãy cùng lần lượt đi tìm hiểu hành trình bút bi đến với mọi người. Bút bi ra đời vào năm 1930 bởi nhà báo người Hunggari tên là Lazo Biro. Lazo Biro là một nhà báo tài năng, trong quá trình làm việc của mình ông nhận thấy sự bất tiện của bút mực, khi liên tục làm tay và giấy tờ bị vấy bẩn, không những vậy bút mực còn rất hay bị hỏng. Trong một lần tình cờ nhìn ấy viên bi chạy qua vũng nước để lại những vệt dài ông đã nảy ra ý tưởng làm ra một loại bút viết mực mau khô để thuận tiện hơn trong quá trình sử dụng. Được sự giúp đỡ của anh trai, ý tưởng của ông nhanh chóng thành hiện thực và khi đưa vào tiêu dùng tất thảy mọi người đều yêu thích vì những tiện lợi mà loại bút này mang lại. Bút bi có cấu tạo ba phần cơ bản: vỏ, ruột và bộ phận điều chỉnh bút. Vỏ bút thường được làm bằng những nguyên liệu dẻo, bền như nhựa. Vỏ bút có hình trụ thường dài từ 14-15 cm, vỏ bút có công dụng bao bọc ruột bút, khiến cho việc cầm bút chắc chắn và sử dụng đơn giản hơn. Ruột bút là một ống mực nhỏ, trong làm từ nhựa dẻo. Phía trên ruột bút là đầu bút được làm bằng kim loại, có một viên bi nhỏ ở đầu, khi viết con bi sẽ chuyển động khiến cho mực trong bút ra đều. Bộ phận còn lại là lò xò và nút điều chỉnh. Nút điều chỉnh sẽ giúp ta khi sử dụng thì bấm vào ngòi bút sẽ trồi ra, khi sử dụng xong tiếp tục ấn vào đó ngòi bút sẽ thụt vào trong, bảo vệ ngòi bút không bị hư hại Nguyên lí hoạt động của bút bi rất đơn giản, với loại bút bi có nút bấm chúng ta chỉ cầm bấm vào nút, ngòi bút sẽ trồi ra, viên bi trên đầu bút sẽ chuyển động, tạo nên những nét chữ thanh thoát đẹp đẽ. Khi sử dụng xong chúng ta chỉ cần bấm nút lại. Bảo quan bút bi cũng không ềh cầu kì, khi sử dụng xong chúng ta chỉ cần bấm nút hoặc đóng ắn p bút lại để đảm bảo bút khi bị rơi không bị va chạm với mặt đất sẽ dẫn đến hỏng ngòi bút. Bút bi là vật dụng phổ biến đối với tất cả mọi người, luôn được ưa chuộng và tin dùng bởi những ưu điểm của mình. Bút bi nhỏ gọn, bền lại vô cùng dễ sử dụng và vận chuyển. Giá thành mỗi chiếc bút bi lại rất rẻ, phù hợp với nhu cầu của học sinh, sinh viên. Nhưng bên cạnh những ưu điểm, bút bi cũng còn một vài hạn chế: vì viết nhanh nên chữ thường không được đẹp, ngòi bút điều tiết mực không kịp có thể bị ra quá nhiều, khiến sách vở bị bẩn.