Đề cương ôn tập thi học kỳ I môn Ngữ văn 8
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề cương ôn tập thi học kỳ I môn Ngữ văn 8", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_cuong_on_tap_thi_hoc_ky_i_mon_ngu_van_8.docx
Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập thi học kỳ I môn Ngữ văn 8
- Đề cương ôn thi học kì 1 môn Ngữ văn lớp 8 I. Phần văn: Câu 1: Bảng thống kê các văn bản đã học: Tác TT Tác giả Thể loại Giá trị nội dung Giá trị nghệ thuật phẩm - Văn tự sự kết hợp hài hòa chặt chẽ với miêu tả và biểu cảm, làm cho Thanh truyện ngắn đậm chất trữ Truyện Tuổi học trò sâu lắng đáng yêu Tôi đi Tịnh tình 1 ngắn hồi cần cảm ơn công lao sinh học (1911- kí thành của cha mẹ. 1988) - Tài sử dụng ngôn ngữ ngắn của nhà văn với những hồi ức sâu lắng đáng yêu. Là bài ca chân tình cảm động Phương thức tự sự và biểu Nguyên về tình mẫu tử, đó là những cảm kết hợp với lời văn Trong Hồng hồi kí tự 2 cay đắng tủi nhục, cùng tình chân tình giàu cảm xúc, lòng mẹ (1918- truyện yêu thương cháy bỏng của nhà với những thủ pháp so 1982) văn đối với người mẹ. sánh độc đáo. Tác phẩm đã vật trần bộ mặt tàn ác bất nhân của xã hội thực Ngô Tất dân phong kiến, Vẻ đẹp của Tức Khắc họa nhân vật rõ nét, Tố Tiểu một tâm hồn đầy yêu thương, 3 nước vỡ ngôn ngữ kể chuyện miêu (1893- thuyết dịu dàng, chịu đựng, ngang bờ tả đối thoại đặc sắc. 1954) tàn, bất khuất của người phụ nữ trước cách mạng tháng 8 tư thế là người rất đẹp của chị
- dậu là ko chịu sống quỳ. Truyện ngắn đã thể hiện một Tạo dựng tình huống cách chân thực và cảm động truyện bất ngờ, ngôn ngữ số phận đau thương của người phù hợp với từng nhân Nam Cao nông dân trong xã hội cũ và Truyện vật, con chó vàng mang 4 Lão hạc (1917- phẩm chất cao quý tiềm tàng ngắn màu sắc triết lí, xây dựng 1951) của họ. Đồng thời truyện ngắn nhân vật bằng miêu tả còn cho thấy tấm lòng yêu ngoại hình để bộc lộ nội thương trân trọng đối với tâm, tâm lí của nhân vật. người nông dân. - Cách kể chuyện hấp dẫn đan xen giữa mộng tưởng và thực tế, sử dụng hình ảnh tương phản đối lập An- đéc- Niềm thương cảm sâu sắc đối Truyện đặc sắc. Cô bé xen với những con người bất hạnh, 5 cổ tích bán diêm (1805- niềm tin của con người và tấm - Sự kết hợp chặt chẽ giữa hiện đại 1875) lòng nhân ái của nhà văn. yếu tố kể, tả, biểu cảm. - Xây dựng tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn phù hợp với tâm lí trẻ thơ. Đánh Xéc- Sử dụng tiếng cười khôi hài để nhau với van- tét Tiểu diễu cợt cái hoang tưởng, tầm Sử dụng phép tương phản 6 cối xay (1547- thuyết thường đề cao thực tế và sự trong xây dựng nhân vật. gió 1616) cao thượng. Ca ngợi tình bạn, tình người Xây dựng cốt truyện đơn Chiếc lá O hen- ri Truyện đằm thắm, tha thiết, thủy giản, giàu kịch tính, kết 7 cuối (1862- ngắn chung, trong sáng nghệ thuật cấu truyện tương phản, cùng 1910) chân chính phục vụ con người, tinh tế hai lần đảo ngược
- hãy yêu thương trân trọng con kết thúc truyện bất ngờ, người nhất là những con người ngôn ngữ kể chuyện giản nghèo khổ. dị nhẹ nhàng và sâu sắc. - Nhân vật kể chuyện kết hợp với hai mạch kể, gắn Ai- ma- Vẻ đẹp thân thuộc cao quý của với hai đại từ nhân xưng Hai cây tốp Truyện hai cây phong gắn liền với là tôi và chúng tôi. 8 phong (1928- ngắn tình thương tha thiết của tác 2008) giả. - Phương thức biểu đạt kết hợp với miêu tả, nhân hóa cao độ. Kết hợp lập luận chặt chẽ, dẫn chướng sinh động, Nạn hút thuốc lá lây lan, gây với thuyết minh cụ thể, tổn thất to lớn cho sức khỏe Nguyễn Văn bản phân tích trên cơ sở khoa Ôn dịch, của con người, cho cuộc sống 9 Khắc nhật học. Sử dụng thủ pháp so thuốc lá của gia đình và xã hội nên Viện dụng sánh để thuyết minh một phải quyết tâm để chống lại cách thuyết phục một vấn nạn dịch này. đề y học có liên quan đến xã hội. Tác giả đã đưa ra các con số buộc người đọc phải Văn bản đã nêu lên vấn đề Văn bản tin tưởng và suy ngẫm về Bài toán thời sự của nhân loại, dân số 10 Thái An nhật sự gia tăng dân số đang lo dân số và tương lai của dân tộc nhân dụng ngại của thế giới, nhất là loại. những nước chậm phát triển. Thông Văn bản Tác hại của bao bì ni lông, lợi Bố cục chặt chẽ logic, lối 11 tin về nhật ích của việc hạn chế sử dụng lí lẽ ngắn gọn, giải thích ngày trái dụng bao bì ni lông để bảo vệ môi đơn giản, kết hợp phương
- đất năm trường sống. pháp liệt kê phân tích. 2000 Hình tượng đẹp đẽ ngang tàn Phan Thể thơ của người anh hùng cứu nước. Châu Hình ảnh thơ mạnh mẽ thất ngôn Dù gian nan thử thất nhưng ko Đập đá ở Trinh khoáng đạt, giọng thơ hào 12 bát cú sờn lòng đổi chí, khí phách Côn Lôn hùng, sử dụng hình ảnh đường hiên ngang, kiên cường, ý chí, (1872- đối lập. luật nghị lực lớn lao của người 1926) chiến sĩ cách mạng. Bài thơ muốn làm thằng cuội Sức hấp dẫn của bài thơ là của Tản Đà là tâm sự của một ở hồn thơ lãng mạn pha Muốn Thất Tản Đà con người bất hòa sâu sắc với chút ngông nghênh đáng làm ngôn bát 13 (1889- thực tại tầm thường, xấu xa, yêu và ở những tìm tòi thằng cú đường 1939) muốn thoát ly bằng mộng đổi mới thể thơ thất ngôn cuội luật tưởng lên cung trăng để bầu bát cú Đường luật cổ bạn với chị Hằng. điển. Câu 2: Nêu điểm giống nhau và khác nhau của các tác phẩm truyện kí Việt Nam đã học năm 30- 45 ? *Giống nhau: - Thể loại: đều là văn bản tự sự, là truyện kí hiện đại - Thời gian ra đời trước CMT8 năm: 1930- 1945 - Đều lấy đề tài về cuộc sống và con người của xã hội thực dụng phong kiến, miêu tả số phận cực khổ của những người nghèo khổ bị vùi dập trong xã hội ấy. - Giá trị tư tưởng: Đều chan chứa tinh thần nhân đạo cao cả (yêu thương, trân trọng những tình cảm, phẩm chất đẹp đẽ của con người, tố cáo những gì tàn ác xấu xa)
- - Giá trị nghệ thuật: bút pháp hiện thực, lối viết chân thực, gần gũi với đời sống, ngôn ngữ giản dị, kể chuyện và miêu tả cụ thể sinh động. - Khác nhau: Mỗi tác phẩm có những điểm khác về các mặt như: thể loại, phương thức biểu đạt, nội dung chủ yếu và đặc sắc nghệ thuật. II. Phần tiếng việt: Câu 1: Lập bảng thống kê các kiểu câu đã học: Tên từ Dấu hiệu, hình thức, chức TT vựng, câu, Khái niệm Ví dụ năng dấu câu *Có hai cách nối các vế câu: - Dùng những từ có tác dụng nối.Cụ thể: +Mây đen kéo kính bầu trời, Câu ghép là +Nối bằng một quan hệ từ; gió giật mạnh từng cơn. những câu do hai +Nối bằng một cặp quan hệ hoặc nhiều cụm +Nắng ấm, sân rộng và sạch. C- V không bao từ; 1 Câu ghép chứa nhau tạo +Giá trời không mưa thì +Nối bằng một cặp phó từ, thành. Mỗi cụm chúng tôi sẽ đi chơi. đại từ hay chỉ từ thường đi C- V này được đôi với nhau (cặp từ hô +Vì mẹ ốm nên bạn Nghĩa gọi là một vế câu ứng). phải nghĩ học. - Không dùng từ nối: Trong trường hợp này, giữa các vế câu cần có dấu phẩy, dấu chấm phẩy hoặc
- dấu hai chấm. *Các vế của câu ghép có quan hệ ý nghĩa với nhau khá chặt chẽ. Những quan hệ thường gặp là: quan hệ nguyên nhân, qh điều kiện(giả thiết), qh tương phản, qh tăng tiến, qh lựa chọn, qh bổ sung, qh tiếp nối, qh đồng thời, qh giải thích. *Mối quan hệ thường được đánh dấu bằng cặp quan hệ từ, những quan hệ từ hoặc cặp từ hô ứng nhất định. Tuy nhiên, để nhận biết chính xác quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu, trong nhiều trường hợp ta phải dựa vào văn cảnh hoặc hoàn cảnh giao tiếp. Nghĩa của một từ ngữ có + Xăng, dầu hoả, ga, than, thể rộng hơn(khái quát củi được bao hàm trong Cấp độ hơn) hoặc hẹp hơn (ít khái phạm vi nghĩa của từ "nhiên khái quát quát hơn)nghĩa của từ 2 liệu". của nghĩa khác: từ ngữ + "Lúa"có nghĩa rộng hơn - Một từ ngữ được coi là có các từ ngữ: lúa nếp, lúa tẻ, nghĩa rộng khi phạm vi
- nghĩa của từ ngữ đó bao lúa tám thơm hàm phạm vi nghĩa của + Lúa lại có nghĩa hẹp hơn một số từ ngữ khác. với từ "ngũ cốc" - Một từ ngữ được coi là có nghĩa hẹp khi phạm vi nghĩa của từ đó được bao hàm trong phạm vi nghĩa của một từ ngữ khác. - Một từ ngữ có nghĩa rộng đối với những từ ngữ này, đồng thời có nghĩa hẹp đối với từ ngữ khác. Trường từ vựng là + Các từ: thầy giáo, công tập hợp của những nhân nông dân, thầy thuốc, Trường 3 từ có ít nhất một kỹ sư đều có một nét từ vựng nét chung về nghĩa chung là: người nói nghĩa chung xét về nghề nghiệp. *Từ tượng hình là từ gợi tả hình ảnh, +Từ tượng thanh: soàn soạt, dáng vẻ, trạng Từ tượng hình, từ tượng bịch, đánh bốp, nham nhảm. Từ tượng thái của sự vật. thanh gợi được hình ảnh, hình, từ âm thanh cụ thể, sinh động, 4 tượng *Từ tượng thanh có giá trị biểu cảm cao; thanh là từ mô phỏng thường được dùng trong âm thanh của tự văn miêu tả và văn tự sự. + Từ tượng hình: rón rén, nhiên của con lực điền, chỏng queo. người. *Ngái_xa,chộ_thấy 5 Từ ngữ *Khác với từ ngữ *Việc sử dụng từ ngữ địa
- địa toàn dân, từ ngữ phương và biệt ngữ xã hội Mẹ_mạ,rào_sông, phương, địa phương là từ phải phù hợp với tình biệt ngữ ngữ chỉ sử dụng ở huống giao tiếp. Trong thơ xã hội một (hoặc một số) văn tác giả có thể sử dụng *Mợ_mẹ,trứng_điểm 0 địa phương nhất một số từ ngữ thuộc hai lớp định. từ này để tô đậm màu sắc địa phương, màu sắc tầng * Khác với từ ngữ lớp xã hội của ngôn ngữ, toàn dân,biệt ngữ tính cách nhân vật. xã hội chỉ được dùng trong một tầng lớp xã hội nhất định *Muốn tránh lạm dụng từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội, cần tìm hiểu các từ ngữ toàn dân có nghĩa tương ứng để sử dụng khi cần thiết. *Trợ từ là những *Ví dụ trợ từ: những, có, từ chuyên đi kèm chính, đích, ngay với một từ ngữ trong câu để nhấn mạnh hoặc biểu Trợ từ, 6 thị thái độ đánh thán từ giá sự vật, sự việc được nói đến ở từ ngữ đó. *Thán từ là những
- từ dùng để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của người nói hoặc dùng để gọi đáp. * Thán từ thường đứng ở đầu câu, có khi được tách A, ái, ơ, ôi, ô hay, than ơi, ra thành một câu đặc biệt. trời ơi * Thán từ gồm hai loại Này, ơi, vâng, dạ, ừ chính: + Thán từ bộc lộ tình cảm cảm xúc: +Thán từ gọi đáp: *Tình thái từ gồm một số loại đáng chú ý như sau: Tình thái từ là những từ được - Tình thái từ nghi vấn: thêm vào câu để À, ư, hả, chứ, chăng - Tình thái từ cầu khiến: Tình thái tạo câu nghi vấn, 7 Đi, nào, với từ cầu khiến, cảm - Tình thái từ cảm thán: thán và để biểu thị Thay, sao sắc thái tình cảm - Tình thái từ biểu thị sắc của người nói. thái tình cảm: Ạ, nhé, cơ, mà *Khi nói khi viết cần chú ý
- sử dụng tình thái từ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp (quan hệ tuổi tác, thứ bậc xã hội, tình cảm ) Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại mức độ, quy +Bọn giặc hoảng hồn vắt mô, tính chất của chân lên cổ mà chạy. 8 Nói quá sự vật, hiện tượng được miêu tả để +Cô Nam tính tình xởi lởi, nhấn mạnh, gây ruột để ngoài da. ấn tượng, tăng sức biểu cảm. + "Chị ấy xấu" có thể thay bằng "Chị ấy không đẹp lắm". Nói giảm nói tránh là một biện + pháp tu từ dùng "Anh ấy hát dở" có thể thay cách diễn đạt tế Nói giảm, bằng "Anh ấy hát chưa hay" 9 nhị, uyển chuyển, nói tránh tránh gây cảm giá +"Ông ấy sắp chết" có thể đau buồn, ghê sợ, thay bằng " Ông ấy chỉ nay nặng nề; tránh thô mai thôi" tục, thiếu lịch sự. Dấu *Dấu ngoặc đơn dùng để *Ví dụ: Lý Bạch (701- 762) 10 ngoặc đánh dấu phần chú thích
- đơn, dấu (giải thích, thuyết minh, bổ hai chấm sung thêm) +Vì chính lòng tôi đang có *Dấu hai chấm dùng để: sự thay đổi: hôm nay tôi đi học. - Đánh dấu (báo trước) phần giải thích, thuyết +Người xưa có câu: “trúc minh cho một phần trước dẫu cháy, đốt ngay vẫn đó. thẳng” - Đánh dấu (báo trước) lời dẫn trực tiếp (dùng với dấu ngoặc kép) hay lời đối thoại (dùng với dấu gạch ngang). Dấu ngoặc kép dùng để: - Đánh dấu từ ngữ, câu, đoạn dẫn trực tiếp; - “A, lão già tệ lắm” Dấu 11 - Đánh dấu từ ngữ được - Cầu Long Biên như một ngoặc kép hiểu theo nghĩa đặc biệt “giải lụa”. hay có hàm ý mỉa mai; - Tác phẩm “Tắt Đèn” của - Đánh dấu tên tác phẩm, tờ “Ngô Tất Tố” báo, tập san, được dẫn. III. Phần tập làm văn: 1. Lý thuyết: Câu 1: Nêu tính thống nhất về chủ đề của văn bản?
- - Chủ đề là đối tượng và vấn đề chính mà văn bản muốn biểu đạt. - Văn bản có tính thống nhất về chủ đề khi chỉ biểu đạt chủ đề đã xác định, không rời xa hay lạc sang chủ đề khác. Câu 2: Bố cục của văn bản? - Bố cục của văn bản là sự tổ chức các đoạn văn để thể hiện chủ đề. Văn bản thường cá bố cục 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài. + Mở bài: giới thiệu nội dung sẽ triển khai, dẫn dắt người đọc nhập cuộc; + Thân bài: triển khai nội dung đã giới thiệu ở mở bài, giải quyết nhiệm vụ đã đặt ra; + Kết bài: khẳng định và nâng cao vấn đề đã trình bày ở phần nội dung. Câu 3: Thế nào là liên kết các đoạn văn trong văn bản? - Khi chuyển từ đoạn văn này sang đoạn văn khác cần sử dụng các phương tiện liên kết để thể hiện quan hệ ý nghĩa của chúng Câu 4: Nêu khái niệm về đoạn văn trong văn bản, từ ngữ chủ đề và câu chủ đề? - Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu bằng chữ viết hoa lùi đầu dòng và kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành. - Từ ngữ chủ đề là các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc các từ ngữ được lặp lại nhiều lần nhằm duy trì đối tượng được biểu đạt. - Câu chủ đề mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn thường đủ hai thành phần chính và đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn. Câu 5: Tóm tắt văn bản tự sự và các bước tóm tắt?
- - Tóm tắt văn bản tự sự là dùng lời văn của mình trình bày một cách ngắn gọn nội dung chính (bao gồm sự việc tiêu biểu và nhân vật quan trọng) của văn bản đó. - Các bước tóm tắt văn bản tự sự: B1: Đọc kĩ văn bản gốc, chọn các sự việc cơ bản xảy ra với nhân vật chính và diễn biến của các sự việc đó. B2: Tóm tắt rõ các hành động, lời nói, tâm trạng của nhân vật theo diễn biến của cốt truyện (một vài chỗ có thể kết hợp dẫn nguyên văn một số từ ngữ, câu văn trong văn bản gốc). Câu 6: Văn bản tự sự có yếu tố miêu tả, biểu cảm. - Trong văn bản tự sự rất ít khi tác giả chỉ thuần kể người, kể việc(kể chuyện) mà khi kể thường đan xen các yếu tố miêu tả, biểu cảm. - Các yếu tố miêu tả biểu cảm làm cho việc kể chuyện sinh động và sâu sắc hơn. Câu 7: Thế nào là văn thuyết minh? - Văn thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống nhằm cung cấp tri thức (kiến thức) về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân,...của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích. Câu 8: Các phương pháp thuyết minh thường gặp: Để bài văn thuyết minh có sức thuyết phục, dễ hiểu,rõ ràng, người ta có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh như: nêu định nghĩa, giải thích, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phân tích, phân loại,... Câu 9: Đề văn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh? - Đề văn thuyết minh nêu các đối tượng để người làm bài trình bày tri thức về chúng.
- - Để làm bài văn thuyết minh cần tìm hiểu kỹ đối tượng thuyết minh, xác định rõ phạm vi triết học về đối tượng đó, sử dụng phương pháp thuyết minh thích hợp, ngôn ngữ chính xác, dễ hiểu. - Bố cục bài văn thuyết minh gồm có ba phần; MB: giới thiệu đối tượng thuyết minh. TB: trình bày cấu tạo, các đặc điểm, lợi ích,... của đối tượng. KB: bày tỏ thái độ đối với đối tượng. Câu 10: Cách thuyết minh về một thể loại văn học? Trước hết phải quan sáy nhận xét sau đó khái quát thành những đặc điểm. Khi nêu các đặc điểm cần lựa chon các đặc điểm tiêu biểu quan trọng và cần có các ví dụ cụ thể để làm sáng tỏ các đặc điểm ấy. 2.Bài tập: Câu 1: Viết đoạn văn giói thiệu về các tác giả Nguyên Hồng, Nam Cao, Ngô Tất Tố ? Nguyên Hồng: Nhà văn Nguyên Hồng sinh năm 1918 mất năm 1982. Tên khai sinh của ông là Nguyễn Nguyên Hồng, quê ở thành phố Nam Định. Nguyên Hồng sống chủ yếu ở thành phố cảng Hải Phòng. Nguyên Hồng từng có một tuổi thơ bất hạnh. Hồi kí Những ngày thơ ấu được coi là những dòng hồi ức sinh động, chân thực đầy cay đắng về tuổi thơ không êm đềm của nhà văn.Ông viết nhiều thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, thơ. Các tác phẩm chính của Nguyên Hồng: Bỉ vỏ (tiểu thuyết, 1938); Những ngày thơ ấu (hồi kí, 1938); Trời xanh (tập thơ, 1960); Cửa biển (bộ tiểu thuyết 4 tập: 1961, 1967, 1973, 1976); Núi rừng Yên Thế (bộ tiểu thuyết lịch sử nhiều tập chưa viết xong); Bước đường viết văn (hồi kí, 1970).Trong những tác phẩm của Nguyên Hồng, hình ảnh người phụ nữ và trẻ em trong xã hội cũ được nhà văn dành nhiều niềm yêu thương, đồng cảm. Với những đóng góp của Nguyên Hồng dành cho nền văn học dân tộc, ông được nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996.
- Nam Cao: Nam Cao (1915-1951) là một trong những nhà văn Việt Nam tiêu biểu nhất thế kỉ 20. Nhiều truyện ngắn của ông được xem như là khuôn thước cho thể loại này. Đặc biệt một số nhân vật của Nam Cao trở thành những hình tượng điển hình. “Lão Hạc” của Nam Cao ra mắt bạn đọc năm 1943. Câu chuyện về số phận thê thảm của người nông dân Việt Nam trong bối cảnh đe doạ của nạn đói và cuộc sống cùng túng đã để lại xúc động sâu xa trong lòng độc giả. Đặc biệt, tác giả đã diễn tả tập trung vào tâm trạng nhân vật chính – lão Hạc – xoay quanh việc bán cho' đã giúp ta hiểu thêm tấm lòng của một người cha đáng thương, một con người có nhân cách đáng quý và một sự thực phũ phàng phủ chụp lên những cuộc đời lương thiện Kết thúc bi kịch cũng là thật sự chấm dứt những dằn vặt riêng tư của lão Hạc, nhưng để lại bao suy ngẫm về số phận những con người nghèo khổ lương thiện trong xã hội cũ. Ngô Tất Tố: Nhà vàn Ngô Tất Tố sinh năm 1893 mất năm 1954 quê ở làng Lộc Há (nay thuộc huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội), ông không đến ngay với nghề viết như nhiều nhà văn khác. Trước năm 1945, Ngô Tất Tố từng làm nhiều nghề như dạy học, bốc thuốc, rồi sau đó mới làm báo, viết văn. Trong Cách mạng tháng Tám, ông tham gia Uỷ ban Giải phóng xã (Lộc Hà). Năm 1946 ông gia nhập Hội Văn hoá Cứu quốc và lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp; từng là Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ Việt Bắc, hoạt động ở Sở Thông tin khu XII, tham gia viết các báo Cứu quốc khu VII, Thông tin khu VII, Tạp chí Văn nghệ, báo Cứu quốc Trung ương... và viết văn. Ông đã là Uỷ viên Ban chấp hành Hội văn nghệ Việt Nam (trong Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ I - 1948). Tác phẩm của Ngô Tất Tố sau này được tập hợp trong tuyển tập: Ngô Tất Tố và tác phẩm, gồm 2 tập, do Nhà Xuất bản Văn học ấn hành, 1971 - 1976. Nhà văn đã được nhận hai giải thưởng trong giải thưởng văn nghệ 1949 -1952 của Hội Văn nghệ Việt Nam: Giải ba dịch (Trời hửng, Trước lửa chiến đấu) và giải khuyến khích (vở chèo Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác); Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (năm 1996). Câu 2:Viết đoạn văn cảm nhận về nhân vật chị Dậu, Lão Hạc, cậu bé Hồng, Cô Bé Bán Diêm. Chị Dậu:
- Đảm đang, tháo vát, chung thủy, giàu lòng hi sinh, đó là những đặc điểm có tính chất truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trước đây. Cái mới của chị Dậu là sức chiến đấu mạnh khỏe, lạc quan và tinh thần phản kháng gan dạ trước kẻ thù. Nhiều người đàn bà khác rơi vào tình cảm quẫn bách như chị Dậu, có khi đành chịu buông tay khuất phục, nhắm mắt cho cuộc đời trôi theo số mệnh. Nhưng người đàn bà nông dân này cứ thấy lăn xả vào bóng tối như mực, kiếm cách phá tung ra đế tìm đường sống. Và chống trả một cách mộc mạc, hồn nhiên, không cần lí lẽ, dường như hành động quyết liệt đó, ngôn ngữ nhân vật nhuần nhị đó là sản phẩm tất yếu của một cuộc đời lương thiện vốn đã cơ cực lại còn bị giày xéo tàn nhẫn: “ - Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!” “ - Ô! Nhà ông này mới hay chứ! Có buông ra không thì tôi kêu lên bây giờ!”.. “ - Cháu cũng biết rằng đàn bà mà hành hung như thế là hư thân lắm, nhưng... cụ tính nhà cháu đau ốm như thế, mà cả hai đứa cứ xông vào đánh thì phỏng cả còn gì là người! Vì thế cháu phải liều với chúng nó”. Thái độ chống trả của chị Dậu (“Cháu phải liều với chúng nó”) là một hành động đấu tranh tự phát đơn độc, chưa có ý thức, chưa có phương hướng. Nhưng trong văn học công khai đương thời, nhân vật này vẫn là một cái cột mốc cao nhất, một hình tượng phụ nữ mạnh khỏe và tươi sáng nhất. Lão Hạc: Lão Hạc là một người nông nghèo khó nhưng giàu lòng yêu thương, sống nhân hậu, tình nghĩa, và có lòng tự trọng, không muốn khi mình chết phải phiền tới hàng xóm. Sau khi bán cậu Vàng, người bạn duy nhất của ông khi về già, ông thấy rất hối hận.vì là ng` có lòng tự trọng, không muốn khi mình chết phải phiền tới hàng xóm nên ông đã tự kết liểu mình bằng chính cái chết mà chó hay nhận được đó là bả chó. Không ai hiểu vì sao lão chết ,chỉ có binh Tư và ông Giáo hiểu. Qua cái chết của Lão ta cũng có thể thấy dc một ý nghĩa rất sâu sắc. Đó là vì lòng yêu thương con trai mình, dành dụm tiền cho con, vì muốn tạ tội với cậu vàng.Cái chết của lão còn mang một hàm ý là muốn tố cáo xã cũ nửa phong kiến và qua đó chứng minh dc rằng lão là một con ng` nghèo khó nhưng giàu lòng yêu thương, sống nhân hậu, tình nghĩa, và có lòng tự trọng. Cậu Bé Hồng: Bé Hồng là một cậu bé có một tuổi thơ bất hạnh nhưng cậu có một tâm hồn vô cùng trong sáng và dạt dào tình yêu thương. Bố cậu ăn chơi , nghiện ngập mất sớm, mẹ cậu phải tha
- hương cầu thực .Còn cậu , cậu phải sống với bà cô cay nhiệt ,ghẻ lạnh,luôn gieo rắc vào đầu óc non nớt của đứa chấu những hình ảnh xấu về người mẹ để cậu ruồng rẫy mẹ của mình.Nhưng Hồng đã ruồng bỏ những lời nói thâm độc của bà cô, cậu đặt 1 niềm tin mãnh liệt vào người mẹ của mình , cậu căm hận những thành kiến tàn ác đã khiến cho mẹ con Hồng phải xa lìa .Hơn ai hết , cậu luôn muốn sống trong tình yêu thương , được mẹ vỗ về, được làm nũng được chiều chuộng,....như bao đứa trẻ khác .Gio đây mẹ là niềm hạnh phúc, là khát khao duy nhất của cậu.Và rồi , vào hôm giỗ đầu thầy cậu . Mẹ đã về. Hồng sung sướng vô bờ. Dạt dào , miên man khi được nằm trong lòng mẹ, được mẹ âu yếm vỗ về.tất acr những khổ đau , những lời nói của bà cô đều bị lãng quên- trôi đi nhẹ như một đám mây.Trong lòng cậu lúc này chỉ còn niềm hạnh phúc .Qua đây, ta thấy được Hồng là một chú bé hiếu thảo , có tâm hồn trong sáng và hơn nữa cậu có một tình yêu thương cháy bỏng dành cho người mẹ bất hạnh của mình-tình mẫu tử thiêng liêng......... Cô Bé Bán Diêm Em bé bán diêm thật tội nghiệp. Người đời đối xử tàn nhẫn với em biết mấy. Họ chẳng thèm để ý đến những lời chào hàng tha thiết của em thậm chí đến lúc chết, cái thi thể lạnh cóng của em cũng chỉ nhận được những ánh nhìn lạnh nhạt. Trong cái xã hội thiếu tình thương ấy, nhà văn An-đéc-xen đã tỏ lòng thương cảm sâu sắc đối với em bé bất hạnh. Chính tình yêu ấy đã khiến nhà văn miêu tả thi thể em với đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười, đồng thời tưởng tượng ra cảnh huy hoàng của hai bà cháu lúc về trời. Song nhìn chung cả câu chuyện nói chung và đoạn kết của truyện nói riêng là một cảnh tượng thương tâm thực sự. Nó gợi lên ở chúng ta bao nỗi xót xa cho những kiếp người nghèo khổ. Câu 3: Kể một việc làm của em khiến cho cha mẹ vui lòng. Bài làm Hai năm trước.“Happy birthday to you! Happy birthday to you!... ” Ôi! Một bài hát thật hay. Đó là ngày sinh nhật của tôi. Hôm đó, mọi người đều vui, riêng chỉ có em tôi – Thu thì chỉ cố làm vẻ mặt tươi cười. Thực ra, từ khi em tôi ra đời, tôi đã đối xử với em rất lạnh lùng vì bố mẹ quan tâm em nhiều hơn tôi vì em còn nhỏ. Một đứa bé dễ thương, gương mặt hồng hào với mái tóc hơi nâu ngang vai nhưng trong mắt tôi, nó là người cướp đi niềm hạnh phúc lớn nhất của tôi rất nhiều rất
- nhiều. Lúc đó, tôi cảm thấy tôi không phải là con của họ vì họ lúc nào cũng quan tâm em và dường như quên mất sự hiện diện của tôi. Có lần, em tôi bị sốt bang và chỉ vài ngày sau đã lây bệnh sang tôi. Tối thấy bố mẹ chăm sóc em cả ngày nhưng còn tôi thì tự mình lo lấy. Lúc đó, tôi không hiểu là em bệnh rất nặng nên bố mẹ mới làm vậy. Mặc dù vậy, em vẫn tươi cười với tôi nó muốn tôi không lo lắng cho bệnh tình của nó. Em thường qua phòng thăm tôi nhưng tôi làm lơ, xem như chẳng có chuyện gì xảy ra. Bỗng một tiếng gọi “Ly, thổi nến đi con ” thì những hình ảnh đó tự dưng biến mất. Hôm đó, mọi người tay cầm món quà, tiếng nói chuyện vui vẻ bao trùm cả nhà. Cả ngày hôm đó, tôi chỉ lo ăn tiệc mà quên nghĩ đến em. Mọi người đều đến nói lời chúc mừng sinh nhật tôi với lời nói rất chân thành. Riêng em tôi thì không. Em luôn ở trong phòng và chỉ ra ngoài khi bố mẹ gọi. Tôi không hiểu em lại làm thế trong khi bên ngoài rất vui và nhộn nhịp, kèm theo em làm người rất thích nơi náo nhiệt. Khi bữa tiệc kết thúc – mọi người đều đã ra về, tôi và bố mẹ dọn dẹp nhà và thấy em bước ra giúp chúng tôi. Tôi nghĩ em làm thế vì muốn lấy lòng bố mẹ nên không quan tâm tới. Khi mà bố mẹ đã ngũ, em qua phòng tôi và nói “Em tặng chị hai quà sinh nhật ” tôi im lặng, em nói thêm “ tự tay em vẽ đó” rồi nở nụ cười thật tươi chào tôi. Tôi nhận nhưng không xem. Sáng hôm sau, mẹ gặp tôi và bảo “Con có nhiều quà lắm phải không, con thấy quà của em như thế nào?”. Tôi im lặng. “Con có biết không, em đã vẽ bức tranh cách đây 1 tháng rồi đấy. Em đã nắn nót từng chi tiết chỉ mong con vui nhưng con làm mẹ thất vọng quá”. Mẹ nói vậy chắc đã biết tôi không xem món quà của em chắc là buồn lắm. Nghe mẹ nói thế, tôi thử lấy ra xem và thật bất ngờ, em đã vẽ cảnh một gia đình vui vẻ nói cười. Có hai người đang ôm ấp và nghịch nhau tôi đoán là em và tôi; xa xa có hai người lớn hơn nhìn cảnh tượng trên mỉm cười. Tuy em vẽ không giống nhưng tôi nghĩ tôi hiểu ý em. Chắc em muốn tôi và em vui vẻ, nô đùa với nhau còn bố mẹ thấy thế mà vui lây mong muốn một gia đình hạnh phúc. Trong giây phút đó, tim tôi như thắt lại và nước mắt cứ trào ra. Tôi tự nhủ lòng là sẽ không đối xử lạnh nhạt với em, sẽ nhường nhịn em. Ngày hôm đó, tiếng cười tràn ngập nhà tôi tôi cảm thấy trong lòng nhẹ nhõm và không còn rây rức như trước nữa. Tôi thật là một người chị không tốt. Tôi cảm tháy mình có lỗi với em và bố mẹ rất nhiều. Tuy bố mẹ không nói nhưng tôi biết trong lòng họ rất vui vì tôi đã trở lại vị trí của một người chị đúng nghĩa – một người con thấu hiểu bố mẹ. Câu 4: Kể một câu chuyện về một con vật nuôi có tình có nghĩa.
- Bài làm Lúc em lên lớp Sáu, ông ngoại cho em một con chó nhỏ khoảng vài tháng tuổi, lông màu nâu sẫm có vằn đen như lông hổ. Em đặt tên cho nó là Lucky. Lucky là giống chó Phú Quốc rất quý. Lúc trưởng thành, nó có thân hình cân đối: ngực nở, bụng thon, bốn chân cao và mảnh. Chiếc đầu nhỏ, đôi tai nhọn dựng đứng, cặp mắt tinh nhanh. Chiếc mũi ướt đánh hơi rất tài. Đã nhiều lần, nó tấn công và giết chết những con chuột cống đáng ghét dám mò vào bếp ăn vụng. Lucky thông minh lắm. Dường như nó hiểu được tiếng người, hiểu được ý định của người sai khiến. Vì em chăm sóc Lucky từ nhỏ nên nó gắn bó với em hơn cả. Trừ những lúc đi học, còn ở nhà thì em đi đâu, Lucky cũng theo sát như hình với bóng. Nó rất thích chơi trò kéo co với em và phần thắng bao giờ cũng thuộc về nó. Vì Lucky khoẻ như vậy nên em còn đặt thêm cho nó một biệt danh là Lực sĩ. Ban ngày, Lucky nằm trước thềm nhà, mõm gác lên hai chân trước, mắt lim dim. Nó chẳng ngủ đâu mà đang trông nhà đấy ! Một tiếng động nhẹ, một bóng người thoáng qua nó đứng phắt lên, dỏng tai nghe ngóng. Tiếng sủa của Lucky lớn và vang. Trông bộ dạng của nó lúc giận dữ, kẻ có tà ý phải lùi xa. Ban đêm, nó không hề ngủ, cứ đi loanh quanh để giữ nhà. Có nó mọi người rất yên tâm.Ấy thế nhưng đối với người thân, Lucky lại rất hiền. Nó thích bày tỏ tình cảm bằng cách bắt tay, ngoáy tít cái đuôi hay nằm khoanh dưới chân chờ lệnh. Lòng trung thành của Lucky đã để lại trong em một ấn tượng không thể nào quên. Mùa hè năm ngoái, vào một buổi chiều, bạn Quốc và bạn Tùng rủ em ra kênh tắm, Lucky cũng đi theo. Con kênh mới đào dẫn nước ngọt tưới mát cho cả một vùng. Từ ngày có dòng kênh này, quê em bốn mùa phủ kín một màu xanh của lúa khoai, cây trái Chiếc cầu bắc ngang kênh là nơi bọn con trai chúng em tụ tập vui chơi nô đùa hằng ngày. Chiều hôm ấy, chơi chán trò rồng rắn, trò đánh trận giả cả đám ùa xuống dòng kênh té nước vào nhau và la hét vang trời. Sau đó, chúng em thách nhau bơi thi xem ai giỏi nhất. Vốn không sợ nước và bơi cũng khá nên em nhận lời ngay. Sau tiếng hô bắt đầu của cu Tèo, ba “vận động viên” nhảy ùm xuống kênh, trổ tài bơi lội. Chặng đầu tiên, em vượt lên trước Quốc và Tùng cả đoạn dài. Tính hiếu thắng trỗi dậy, em dồn sức bơi thật nhanh để về đích trước.Nhưng Ôi! Sao chân trái của em tự nhiên cứng đờ và đau quá thế này! Em đã bị “chuột rút”. Không thể duỗi chân ra bơi tiếp được nữa nên em vội kêu to nhưng càng kêu, nước càng ộc vào miệng nhiều hơn. Em mất thăng bằng, lạng người đi rồi trôi theo dòng nước. Em sợ hãi nghĩ rằng phen
- này chắc em chết mất! Trong cơn hoảng hốt, bỗng nhiên tay em quờ phải một vật gì đó mềm và ấm. Rồi hình như có ai đó túm chặt lấy quần em, cố lôi đi. Em định thần nhìn kĩ thì hóa ra là Lucky, chú chó thân yêu. Nó đã dũng cảm lao xuống cứu em trong cơn nguy hiểm. Vừa lúc đó, Quốc và Tùng cũng đã đến, kịp thời dìu em vào bờ. Lucky rùng mình rũ nước rồi mừng rỡ chạy quanh em, cất tiếng sủa vang. Được chứng kiến cảnh chú chó liều mình cứu chủ, ai cũng khen là con chó có nghĩa. Còn em và tất cả những người thân trong gia đình từ hôm ấy lại càng thêm yêu quý Lucky. Câu 5:Giới thiệu về một vật dụng trong gia đình. Bài làm Đời sống của con người thì ngày càng tiến bộ.Các vật dụng trong gia đình đáp ứng cho cuộc sống của con người cũng ngày một tiến bộ theo.Trong số đó,phích nước là một vật liệu thông dụng trong gia đình mà chắc hẳn gia đình nào cũng phải sử dụng đến.. Phích nước là một đồ dùng trong gia đình dùng để giữ cho nước được nóng lâu.Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại phích có mẫu mã,kiểu dáng khác nhau,có loại phích điện hiệ đại mà chỉ có các gia đình có kinh tế khá mới sử dụng.Nhưng loại phích dạng thông thường vẫn được sử dụng nhiếu hơn cả. Phích nước có dạng hình trụ,cao khoảng 49 đến 50 cm.Cấu tạo gồm hai phần :vỏ phích và ruột phích.Vỏ phích có thể được làm bằng nhựa hoặc nhôm.Bên ngoài vỏ phích người ta thường trang trí hoa văn,hình vẽ trông rất đẹp mắt.Dọc theo thân vỏ có một cái quai cầm để người sử dụnh dễ cầm,mang,xách và thuận lợi cho việc chế nước từ trong phích ra ngoài.Ngoài ra,trên vỏ phích còn có một cái quai xách chắc chắn để thuận tiện cho việc di chuyển phích nước.Bên trong vỏ phích được làm làm bằng thủy tinh có tráng thủy để giử độ nóng cho nước trong 1 thời gian nào đó.Nút phích là một bộ phận dùng đậy ruột phích ,nút phích có thể là nhựa,gỗ hoặc bằng nút thủy tinh tròn.Nút phích còn được bao đậy bởi nắp phích.Nắp phích được làm bằng nhực hoặc làm bằng nhôm tùy theo chất liệu của vỏ phích. Cách sử dung phích nước thì rất đơn giản.Ta chỉ cần chế nước sôi vào ruột phích,sau đó đậy chặt nuts phích và nắp phích lại,khi nào cần thì mới mở nắp phích ra để lấy nước.Thông thường,các loại phích dạng này chỉ giữ đươc nước nóng không quá 6 tiếng.Khi mới mua về,chúng ta không nên sử dụng ngay mà phải cho nước ấm hoặc một ít nước giấm khoảng từ 50-60 độ C vào ruột

