Tài liệu ôn thi Học sinh giỏi Ngữ văn Lớp 8 (Dùng chung cho 3 bộ sách)

docx 356 trang LinhLan 29/07/2026 920
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu ôn thi Học sinh giỏi Ngữ văn Lớp 8 (Dùng chung cho 3 bộ sách)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxtai_lieu_on_thi_hoc_sinh_gioi_ngu_van_lop_8_dung_chung_cho_3.docx

Nội dung tài liệu: Tài liệu ôn thi Học sinh giỏi Ngữ văn Lớp 8 (Dùng chung cho 3 bộ sách)

  1. LỜI ĐỀ TỪ Một nhân vật trong tiểu thuyết của Lev Nikolaevich Tolstoy cho rằng: “Có bao nhiêu cái đầu thì có bấy nhiêu cách suy nghĩ, có bao nhiêu trái tim thì có bấy nhiêu cách yêu đương !” cũng có thể dùng quan niệm ấy để nói về con đường tới với văn chương. Cuốn “TÀI LIỆU ÔN THI HSG LỚP 8 – DÙNG CHUNG CHO 3 BỘ SÁCH: CÁNH DIỀU, KẾT NỐI TRI THỨC, CHÂN TRỜI SÁNG TẠO” trên tay các bạn chỉ là một cách hiểu,cách làm, cách cảm đối với những tác phẩm văn chương. Tập sách đã dung nạp những yêu cầu của việc hệ thống hóa kiến thức từ cơ bản đến nâng cao với năng lực cảm thụ cái hay,cái đẹp của văn chương; từ cơ sở những gợi ý đầu tiên, các bạn có thể tự tìm ra con đường tới với thế giới của Chân – Thiện – Mĩ trong mỗi tác phẩm , mỗi hình tượng nghệ thuật . Cũng có thể coi những bài giảng trong tập sách này như những nguyên liệu đầu tiên, là gạch, đá, cát, sỏi giúp các bạn thiết kế những ngôi nhà phù hợp với mình. Chúc các bạn xây được những lâu đài ngày mai với sự bắt đầu từ viên gạch nhỏ hôm nay Tác giả Ths. Nguyễn Minh Duyên 2
  2. Chuyên đề lí luận văn học đặc điểm về ngôn từ của tác phẩm văn học Phần 1: Tổng quan về lí luận văn học 1. Lí luận văn học là gì? Lí luận văn học là nghiên cứu văn học ở bình diện khái quát, nhằm tìm ra những quy luật chung nhất về văn học. 2. Những chủ đề lí luận văn học học sinh lớp 8,9 cần tập trung 3. Cách học từng nội dung lí luận văn học - Mỗi chủ đề cần làm rõ qua các câu hỏi: • Là gì? (khái niệm) • Như thế nào? (biểu hiện) • Vì sao? (cơ sở nội tại của văn học và cơ sở khách quan từ đời sống xã hội) - Linh hoạt áp dụng kiến thức lí luận văn học ở những vị trí khác nhau trong bài nghị luận văn học: 3
  3. • Mở bài: dẫn dắt • Thân bài: luận điểm chứng minh bằng cơ sở lí luận, luận điểm chứng minh bằng tác phẩm văn học, luận điểm đánh giá • Kết bài: Liên hệ mở rộng Phần 2 (Chủ đề 1 - đặc điểm, bản chất của văn học) đặc điểm về ngôn từ của tác phẩm văn học 1. Khái niệm - Ngôn từ của tác phẩm văn học là ngôn từ nghệ thuật, là ngôn từ toàn dân đã được nghệ thuật hóa (chọn lọc, gọt giũa, trau chuốt ) và đặc biệt ngôn từ ấy phải đem lại cho người đọc những cảm xúc thẩm mĩ – cảm xúc được nhận biết thông qua những rung động tình cảm. - Ngôn từ văn học cũng là một dạng của lời nói, nhưng là lời nói được sử dụng nhằm xây dựng nên các hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm. - Ngôn từ là chất liệu của văn học. Văn học sử dụng ngôn từ như là chất liệu và phương tiện để miêu tả đời sống và biểu hiện tư tưởng, tình cảm của nhà văn trước cuộc đời. (Đặc trưng của mỗi loại hình nghệ thuật bắt nguồn từ chất liệu mà loại hình ấy sử dụng ) Lưu ý: - Những kiến thức này chủ yếu sử dụng ở: - Luận điểm giải thích khi nhận định có chứa thuật ngữ hoặc hình ảnh về ngôn từ văn học. - Luận điểm bàn luận (chứng minh bằng cơ sở lí luận) 2. Đặc trưng của ngôn từ văn học - Tính hình tượng: + Tính hình tượng của ngôn từ nghệ thuật thể hiện ở khả năng gợi lên những hình ảnh, đường nét, màu sắc, âm thanh, mùi vị của sự vật hiện tượng được miêu tả. + Ngôn từ nghệ thuật gây cho người đọc ấn tượng về thị giác, thính giác, xúc giác , khiến cho họ có thể cảm nhận một cách cụ thể, cảm tính, rõ ràng, xác thực đối với cảnh vật, sự kiện và con người được tái hiện trong tác phẩm. - Tính biểu cảm: + Tính biểu cảm của ngôn từ nghệ thuật thể hiện ở khả năng bộc lộ mạnh mẽ cảm xúc, thái độ, cách đánh giá của nhà văn đối với các hiện trạng của đời sống. + Ngôn từ nghệ thuật lan truyền và dấy lên những cảm xúc phong phú, dồi dào trong lòng người đọc. - Tính hàm súc cao: Ngôn từ trong tác phẩm văn học là ngôn ngữ đã được nhà văn chọn lựa, chắt lọc một cách kĩ càng sao cho bằng lượng từ ngữ cô đọng nhất cũng có 4
  4. thể gợi lên chính xác nhất bản chất của sự vật, hiện tượng. ￿ Ý tại ngôn ngoại, nói ít gợi nhiều, ngôn từ hàm chứa nhiều tầng nghĩa. - Phẩm chất thẩm mĩ và khả năng nghệ thuật: - Ngôn từ - như là chất liệu và phương tiện của văn học – phải là lời nói hay, lời nói đẹp, là lời nói có khả năng làm lay động lòng người và khơi dậy cảm xúc thẩm mĩ. - Người đọc văn không chỉ được thưởng thức “tình hay ý đẹp” mà còn say đắm với vẻ đẹp của con chữ trong tác phẩm. Lưu ý: Những kiến thức này chủ yếu sử dụng ở: • Luận điểm bàn luận (chứng minh bằng cơ sở lí luận) • Luận điểm đánh giá, nhận xét 3. Cơ sở tồn tại của những đặc trưng trong ngôn từ văn học - Cơ sở nội tại của văn học: + Nhà văn sáng tác tác phẩm nghệ thuật là một quá trình lao động mà ngôn từ trong tác phẩm chính là thành quả của quá trình ấy. Bởi vậy, ngôn từ nghệ thuật luôn được trau chuốt, chứa đựng dụng ý của tác giả. + Tác phẩm văn học ghi dấu ấn trong lòng bạn đọc, có được sức sống lâu bền là bởi lớp ngôn từ của tác phẩm ấy. Ngôn từ là yếu tố đầu tiên quyết định sự tồn tại của tác phẩm. + Bạn đọc chỉ có thể tiếp nhận giá trị văn học, hiểu và cảm nhận được tác phẩm văn học thông qua hệ thống ngôn từ của tác phẩm ấy. - Cơ sở khách quan từ xã hội + Ngôn từ luôn gắn liền với đời sống con người. + Mỗi loại hình nghệ thuật đều mang những đặc trưng của thứ chất liệu làm ra nó. Văn học cũng là một loại hình nghệ thuật. Lưu ý: Những kiến thức này sử dụng chủ yếu ở: - Luận điểm bàn luận (chứng minh bằng cơ sở lí luận) - Luận điểm đánh giá, nhận xét 5
  5. Sơ đồ tóm tắt kiến thức về NGÔN TỪ TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC 4. Một số nhận định về ngôn từ văn học - Thơ là thơ, đồng thời là họa, là nhạc, là chạm khắc theo một cách riêng. (Sóng Hồng) - Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành một mật Một giọt mật thành, đòi vạn chuyến ong bay (Chế Lan Viên) - Một câu thơ hay là một câu thơ có sức gợi. (Lưu Trọng Lư) - Làm thơ là tạo ra một hành tinh thứ hai bằng ngôn ngữ. (Chế Lan Viên) - Tả một môi son, có khi anh chỉ nói sắc ven hồ Phải giấu tình cảm của anh đi như ém quân trong rừng vắng Chỉ vì anh nghĩ đến người độc giả mai sau có cái thú đi tìm vàng trên trang giấy Đang bơi thuyền giữa sen hồ bỗng bắt gặp môi son (Chế Lan Viên) - Ở đâu có lao động thì ở đó có sáng tạo ra ngôn ngữ. Nhà văn không chỉ học tập ngôn ngữ của nhân dân mà còn là người phát triển ra ngôn ngữ sáng tạo. Không nên ăn bám vào ngôn ngữ của người khác. Giàu ngôn ngữ thì văn hay Cũng cùng một vốn ngôn ngữ ấy, nhưng sử dụng nó sáng tạo thì văn sẽ có bề thế và kích thước. Dùng chữ như đánh cờ tưỡng, chữ nào để chỗ nào phải đúng vị trí của nó. Văn phải linh hoạt. Văn 6
  6. không linh hoạt gọi là văn cứng đơ, thấp khớp. (Nguyễn Tuân) - Thơ văn quý ở chỗ cong. (Viên Mai) - Tất cả thơ văn, chữ chữ phải đứng ở trên trang giấy chứ không được nằm đơ trên trang giấy. (Viên Mai) - Yếu tố đầu tiên của văn học là yếu tố ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó – cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống – là chất liệu của văn học. (M. Gorki) - Phải phí tốn nghìn cân quặng chữ Mới thu về một chữ mà thôi Những chứ ấy làm cho rung động Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài (Mai-a-cốp-xki) 7
  7. Chuyên đề lí luận văn học đặc điểm về hình tượng trong tác phẩm văn học Hình tượng trong tác phẩm văn học 1. Khái niệm (Là gì?) Bất cứ hiện tượng, con người, sự vật nào được xây dựng lại một cách sáng tạo trong tác phẩm văn học thì đều là hình tượng văn học. (VD: hình tượng người phụ nữ, hình tượng người lính, hình tượng người mẹ, hình tượng người nông dân ) 2. Đặc điểm (Như thế nào?) Chúng ta chỉ có thể hình dung ra hình tượng văn học bằng trí tưởng tượng và khả năng liên tưởng của mình. Do hình tượng văn học được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ. - Quá trình miêu tả hình tượng văn học thường sẽ chậm. Vì hình tượng văn học không tác động trực tiếp vào các giác quan bên ngoài của chúng ta mà nó chỉ là sự xuất hiện bằng ngôn ngữ mà thôi. Vẻ đẹp của hình tượng văn học phải là một quá trình ngẫm nghĩ, tự cảm nhận dài lâu. - Hình tượng văn học thường kém sáng rõ so với hình tượng của các loại hình nghệ thuật khác. Vì khi xây dựng hình tượng văn học đôi khi tác giả chỉ dùng những nét phác thảo, thường bỏ qua nhiều chi tiết trong việc miêu tả đối tượng, có khi “chừa lại đất” cho người đọc tự cảm thụ lấy. - Hình tượng văn học có thế mạnh trong việc phát huy cao độ vai trò “đồng sáng tạo” của bạn đọc. - Con người chính là hình tượng trung tâm của tác phẩm văn học. + Đối tượng phản ánh đặc thù của văn học là con người. Văn học bao giờ cũng đặt con người vào vị trí trung tâm, lấy con người làm đối tượng chủ yếu của sự phản ánh. Đối với văn học, con người luôn là nơi quy chiếu của mọi vẻ đẹp và mọi giá trị của đời sống. + Con người trong tác phẩm văn học là con người cụ thể, sinh động và hấp dẫn. + Con người được miêu tả trong văn học là con người toàn vẹn với tất cả đời sống tự nhiên và xã hội. 8
  8. ⇒ Việc miêu tả con người trong văn học không phải chỉ nằm ở việc miêu tả hành động hay chân dung, mà điều quan trọng là việc phản ánh tính cách, thân phận và những suy tư của họ. ⇒ Tính nhân bản của văn học (nhân văn, nhân đạo) 3. Ý nghĩa, tác động (Vì sao? Cơ sở tồn tại của hình tượng trong văn học) - Người cầm bút: Mỗi cây bút phải là một nhà nhân đạo trong cốt tủy để khám phá ra hiện thực đời sống với bao nỗi niềm băn khoăn, thao thức, sướng vui, đau khổ của con người. Và người nghệ sĩ phải đắm mình vào cuộc sống, tích lũy những gì tinh túy nhất đem vào trang viết của mình. - Bạn đọc: mỗi số phận trong văn học giúp người đọc được trải nghiệm với một cuộc đời sinh động và toàn vẹn. Đến với văn học, trong tâm thế đọc để hiểu, để thấm, người đọc có cơ hội được sống nhiều cuộc đời khác nhau. 4. Một số nhận định về hình tượng của văn học - “Văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm chính là con người”. (Nguyễn Minh Châu) - “Con người, tiếng ấy thật tuyệt diệu, nó vang lên kiêu hãnh và hùng tráng xiết bao!” (M. Gorki) -“Con người với tất cả đời sống tự nhiên và xã hội của nó chính là đối tượng và cũng là đặc trưng cơ bản của văn học”. (Lê Ngọc Trà) - “Nhà thơ tư duy bằng hình tượng.” (Belinxki) -“Văn học là nhân học”. - “Một nghệ sĩ chân chính phải là một nhà nhân đạo từ trong cốt tủy”. (Sê-khốp) - “Con người đến với cuộc sống từ nhiều nẻo đường, trên muôn vàn cung bậc phong phú nhưng tiêu điểm mà con người hướng đến vẫn là con người". (Đặng Thai Mai) - “Nhà văn phải là người đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn của con người.” (Nguyễn Minh Châu) - Tình yêu thương con người của người nghệ sĩ “vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa là một nỗi đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những người xung quanh mình”. (Nguyễn Minh Châu) - “Một vầng trăng in trong gương Vẫn là một vầng trăng Một vầng trăng qua lòng mắt nghệ sĩ Có thể thành vô vàn nét đẹp” (Phạm Thiên Thư) “Bài thơ anh, anh làm một nửa mà thôi Còn một nửa cho mùa thu làm lấy 9
  9. - Cái xào xạc hồn anh là xào xạc lá Nó không là anh nhưng nó là mùa” (Chế Lan Viên) Sơ đồ tóm tắt kiến thức về Hình tượng trong văn học 10
  10. Chuyên đề lí luận văn học đặc điểm về nội dung của tác phẩm văn học Nội dung (ý nghĩa) của tác phẩm văn học 1. Tác phẩm văn học luôn phản ánh hiện thực - Văn học bắt nguồn từ đời sống và phản ánh đời sống. Phản ánh đời sống là một thuộc tính tất yếu của văn học ￿ Dù tác phẩm văn học có phong phú, đa dạng đến đâu thì bất kì tác phẩm nào – hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, ở mức độ này hay mức độ khác – đều mang trong nó hơi thở của cuộc sống, bóng dáng của thời đại và hiện thực cuộc đời mà nó được sinh ra. - Sự phản ánh hiện thực đời sống của nhà văn thực chất là một quá trình chắt lọc, nhào nặn, tổ chức lại những chất liệu đời sống theo trí tưởng tượng phong phú và dựa trên một ý đồ nghệ thuật nào đó của người nghệ sĩ. Nói cách khác, sự phản ánh hiện thực trong văn học không phải sự sao chép y hệt, bê nguyên xi, không phải là mô tả một cách máy móc, thô thiển. Đó phải là sự phản ánh thông qua hư cấu nghệ thuật và bằng hư cấu nghệ thuật. Vì vậy, bức tranh đời sống được miêu tả trong tác phẩm văn 11
  11. học bao giờ cũng vừa thực vừa hư, vừa giống vừa không giống với hiện thực, vừa là hình ảnh phản chiếu thực tại, vừa là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú. 2. Tác phẩm văn học luôn thể hiện những tâm tư, tình cảm, trăn trở, nghĩ suy của nhà văn - Tác phẩm văn học luôn thể hiện, bộc lộ tâm trạng của người sáng tác trước những sự vật, hiện tượng, trạng thái của đời sống. Bởi văn học cũng là một loại hình nghệ thuật nên bên cạnh chức nặng phản ánh hiện thực, nó còn mang chức năng bộc lộ tâm trạng của người sáng tác. - Cảm xúc và ý nghĩ của con người trong văn học là phong phú vô vàn và biểu hiện hầu như trên mọi cung bậc. Đó có thể là những e ấp ngại ngùng thuở ban đầu, những thổn thức đau thương, những da diết bồi hồi hay rạo rực niềm yêu, những đớn đau căm giận Đó còn là những tâm tư, suy nghĩ, trăn trở, cảm thông, thấu hiểu về nhân sinh, về cuộc sống. Chính sự chiêm nghiệm và giãi bày ấy đã làm nên nội dung chủ yếu và giá trị nhân văn quý báu của thơ văn. - Tình cảm trong văn chương bắt nguồn từ đời sống, điều đó đòi hỏi nhà văn phải sống thật với đời. Trái tim người nghệ sĩ phải là trái tim đủ nhạy cảm, dễ rung động và giàu cảm thông để có thể thấu hiểu và đồng cảm với niềm vui và nỗi đau nhân thế. ⇒ Do đó, tiếng nói trong thơ văn là tiếng nói chứa chan đồng điệu, tiếng nói sẻ chia của tâm hồn con người. Thơ văn là điệu hồn tìm đến với điệu hồn trong cõi nhân gian. 3. Tác phẩm văn học thường đa nghĩa - Nội dung của một tác phẩm văn học luôn hàm chứa trong đó nhiều ý nghĩa, bao gồm: • Phần khách quan của hiện thực đời sống • Phần chủ quan trong thế giới tư tưởng của nhà văn ⇒ Hai phương diện ấy luôn hòa quyện, xuyên thấm vào nhau trong từng câu chữ, ừng hình tượng của tác phẩm. (VD: Trong tác phẩm “Làng”, khi ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu của ông là làng Việt gian, ông quay về nhà, nghĩ về những người ở lại làng, ông lão nắm chặt hai tay lại mà rít lên: “Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này”. Tác giả Kim Lân đã miêu tả như vậy. Qua chi tiết đó, tác giả không chỉ nói lên sự tức giận, căm phẫn của ông Hai đối với những kẻ bán nước ở làng ông mà còn thể hiện sự thấu hiểu sâu sắc, nỗi trăn trở về tình làng, tình nước trong tư tưởng của người nông dân.) - Nội dung của tác phẩm văn học còn đặc trưng ở tính cất “mở”. Do ngôn từ văn học xây dựng lên các hình tượng. Hình tượng trong văn học đặc trưng bởi tính đa nghĩa nên nội dung của tác phẩm không thể nói được hết, bao quát được hết trong một 12
  12. lần cắt nghĩa. Mỗi một lần cắt nghĩa, tác phẩm có thể lại bộc lộ thêm một nét nghĩa mới. Cứ như thế, nội dung của tác phẩm hầu như mở ra khôn cùng trong sự cảm thụ, tiếp nhận của bạn đọc ở nhiều thế hệ, nhiều thời đại khác nhau. Đó chính là “năng lượng nghĩa khổng lồ” của tác phẩm văn học. ⇒ Tính đa nghĩa của tác phẩm văn học và đặc tính “mở” của nội dung nghệ thuật góp phần tạo nên sức sống, sức hấp dẫn của tác phẩm trong quá trình tiếp nhận; đồng thời cho phép phát huy cao độ khả năng sáng tạo của người đọc trước tác phẩm của mỗi nhà văn. - Ý nghĩa, tác động của đặc tính “mở” trong văn học: • Đối với người nghệ sĩ: Những nhà văn xuất sắc thường nhìn thấy và phản ánh trong tác phẩm của họ những hiện tượng đời sống tinh tế hay những vấn đề lớn lao, mang ý nghĩa phổ quát của đời sống, đồng thời bộc lộ quan niệm và những cảm xúc mới mẻ đối với đời sống theo cái nhìn tiến bộ của họ. • Đối với bạn đọc: Khi đọc một tác phẩm văn chương, độc gải không chỉ dừng lại ở việc phát hiện sự thật đời sống trong tác phẩm, mà còn phải khám phá cái nhìn, thái độ, cách đánh giá và cảm hứng của nahf văn ra sao đối với cuộc đời. 4. Những nhận định về nội dung, ý nghĩa của tác phẩm văn học a. Nhận định về quá trình phản ánh hiện thực đời sống trong văn học - “Thơ, trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật.” (Belinsky) - “Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực.” (Stendhal) - “Nhà văn là thư kí trung thành của thời đại, tác phẩm của anh là tấm gương xê dịch trên quãng đường đời.” (Balzac) - “Tác phẩm văn học là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp.” (Sóng Hồng) - “Văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn.” (Thạch Lam) - “Sống đã, rồi hãy viết.” (Nam Cao) - “Cuộc đời là điểm khởi đầu và là điểm đi tới của văn chương.” (Tố Hữu) - “Hình tượng nghệ thuật không phải chỉ mang bóng dáng của hình ảnh đời sống mà còn chứa đựng cả quan niệm của nhà văn về nó.” (Lê Ngọc Trà) - “Hãy bắt đầu từ cuộc sống, và từ đó sẽ nảy ra thơ.” (Nguyễn Văn Thạc) - “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời.” (Tô Hoài) b. Nhận định về quá trình bộc lộ cảm xúc, tâm tư người nghệ sĩ trong tác phẩm văn học - “Văn học không làm – hay không phải chỉ làm công việc của một tấm gương.” (André Gide) - “Đọc một câu thơ nghĩa là ta gặp gỡ một tâm hồn con người.” (Anatole France) 13
  13. - “Tác phẩm nghệ thuật đạt tới cái đẹp theo nghĩa: mang được sự thật sâu xa của đời sống bên ngoài, đồng thời mang được sự thật tâm tình của con người.” (Lê Đình Kỵ) - “Những trang giấy ố vàng không chấp nhận cái thế giới im lặng tưởng như vĩnh cửu nên đã mở lòng ra với cuộc đời rộng lớn chung quanh. Và những trang sách của những tâm sự riêng tư đã vượt khỏi câu chuyện của một người để trở thành câu chuyện của muôn người.” (Huỳnh Như Phương) c. Nhận định về tính đa nghĩa của tác phẩm văn học - “Một bài thơ hay không bao giờ ta đọc qua một lần mà bỏ xuống được. Ta sẽ dừng tay trên trang giấy đáng lẽ lật đi, và đọc lại bài thơ. Tất cả tâm hồn chúng ta đọc.” (Nguyễn Đình Thi) - “Tác phẩm văn học chân chính không kết thúc ở trang cuối cùng, không bao giờ hết khả năng kể chuyện.” (Aimatov) 14
  14. Chuyên đề lí luận văn học Chức năng của văn học Chức năng của văn học 1. Chức năng nhận thức - Những hiểu biết mà văn chương mang đến cho chúng ta phong phú và đồ sộ về phong cảnh thiên nhiên, phong tục tập quán vùng miền, những sinh hoạt vật chất và tinh thần, những sự kiện chính trị xã hội, những biến cố của quốc gia, dân tộc qua mọi thời đại, các vấn đề xã hội, xu hướng bản chất của từng thời đại ⇒ Đó là những “tri thức cụ thể” và sự hiểu biết rất riêng mang tính đặc thù của văn học nghệ thuật. VD: Tri thức về nước trong văn học không phải luôn cố định với một định nghĩa: nước là một chất không màu không mùi không vị Nước trong văn học có những đặc điểm riêng, đem đến những nhận thức mới lạ: • “Thu ẩm” (Nguyễn Khuyến): nước “lóng lánh bóng trăng loe”. • “Cảnh khuya” (Hồ Chí Minh): nước cất tiếng rì rào trong trẻo “như tiếng hát xa”. • “Sông Đà” (Nguyễn Tuân): nước có lúc “lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa”, có lúc “xanh một màu xanh ngọc bích” và khi xuân sang, nước “sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”. - Nhận thức quan trọng nhất mà văn học mang lại chính là sự hiểu biết về con người qua từng thời đại. Đó là những con người với đời sống tự nhiên và xã hội, con người lao động, con người chiến đấu, con người với chiều sâu cảm xúc, vẻ đẹp tâm hồn riêng VD: Đọc “Chí Phèo” của Nam Cao, “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, “Bỉ vỏ” của Nguyên Hồng, “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan... chúng ta đều hiểu khá đầy đủ về cuộc sống khổ cực của người dân Việt Nam trong những năm tháng đen tối trước Cách mạng tháng Tám... Tiếng trống, tiếng tù rúc trong những ngày nộp sưu thuế, tiếng thét uất nghẹn của kẻ không – được – làm - người, một lưỡi dao vung lên, một vũng máu tươi, một cuộc đời đi vào ngõ cụt... tất cả giúp chúng ta nhận thức sâu sắc bi kịch về số phận con người trong xã hội cũ. - Đặc trưng của chức năng nhận thức chính là tính tự giác, tự ngộ, tự nhận thức của bản thân bạn đọc. 2. Chức năng giáo dục 15
  15. - Văn chương góp phần giáo dục luân lí, truyền bá đạo đức cho con người. - Các tác phẩm văn học tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, làm thay đổi “mắt ta nhìn, óc ta nghĩ”. VD: Hình tượng Lạc Long Quân và Âu Cơ trong truyền thuyết, hình tượng con cò trong ca dao, hình tượng Thạch Sanh, cô Tấm trong truyện cổ tích, hình tượng Thúy Kiều, Cúc Hoa, Ngọc Hoa, Nguyệt Nga, Lục Vân Tiên trong truyện Nôm, cho đến hình tượng chị Dậu, anh Núp, chị Sứ, mẹ Suốt, mẹ Tơm, anh giải phóng quân trong văn thơ hiện đại: có ảnh hưởng mạnh mẽ tới quan niệm đạo đức của lớp lớp thế hệ người Việt Nam. - Đặc trưng của giáo dục bằng văn học là sự giáo dục mang tính tự giác, dưới một hình thức nghệ thuật tươi mát, hấp dẫn. Nó có tác dụng thẩm thấu, lan tỏa dài lâu trong tâm hồn con người. VD: Đọc những áng hùng văn của Lí Thường Kiệt, Nguyễn Trãi... ta rất đỗi tự hào về dân tộc ta, tự hào về truyền thống anh hùng của đất nước ta. Đọc “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, nhận thấy sự bất công xã hội, ta cảm thấy đồng cảm sâu sắc với thân phận người phụ nữ và căm giận cho những tội ác của giai cấp thống trị phong kiến trong thời buổi mạt vận đó. - Văn học nghệ thuật mang lại sức sống cho tâm hồn. Văn học nghệ thuật xây dựng đời sống tâm hồn, tình cảm cho con người, cho toàn xã hội. VD: Cảm hiểu về tình đồng chí trong “Đồng chí”, sự tha thứ, bao dung thực sự qua “Ánh trăng”, tình cảm cá nhân và trách nhiệm cộng động qua “Làng”, đừng bao giờ dùng hai chữ “để dành” cho những cử chỉ yêu thương qua “Chiếc lược ngà” 3. Chức năng thẩm mĩ - Văn học đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người bằng cách phản ánh cái đẹp. Đó là cái đẹp vốn có trong tự nhiên muôn màu muôn vẻ. VD: Thần thoại, truyền thuyết, sử thi xây dựng các hình tượng nghệ thuật kì vĩ để ngợi ca những chiến công hiển hách, ngợi ca sức mạnh và năng lực của con người trong công cuộc khai phá đất đai, mở rộng địa bàn cư trú, tạo dựng dân tộc, chống ngoại xâm bảo vệ độc lập của cộng đồng. Truyện cổ tích đề cao cái thiện và những chuẩn mực đạo đức như là nền tảng của nhân tính muôn đời. Văn học trung đại biểu dương những tấm gương trung liệt, nghĩa khí. Văn học hiện đại phát hiện vẻ đẹp đời thường ở ngay những nơi lấm láp nhất, nhiều tục lụy nhất. ⇒ Mọi vẻ đẹp của hiện thực đời sống đều soi bóng trong nghệ thuật. Đến với văn học nghệ thuật ta có thể thỏa thích chiêm ngưỡng những vẻ đẹp ấy - Cái đẹp trong văn chương là cái đẹp của thế giới khách quan, cái đẹp của sự vật hiện tượng nhà văn sáng tạo, cái đẹp của cảm xúc thăng hoa, cái đẹp của ngôn từ 16
  16. Bielinxki: “Cái đẹp trong nghệ thuật là điều kiện không thể thiếu được của nghệ thuật. Nếu thiếu cái đẹp thì không có và không thể có nghệ thuật.” VD: Chế Lan Viên đã từng cảm rất sâu sắc về vẻ đẹp của Tổ quốc, vẻ đẹp của truyền thống ngàn xưa: “Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? Chưa đâu! Ngay cả trong những ngày đẹp nhất Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sông Bạch Đằng...” - Văn học thỏa mãn cho ta nhu cầu về cái đẹp, tạo nên những rung động thẩm mĩ trong lòng ta. VD: “Gió lạnh đầu mùa” (Thạch Lam): cảm giác về cái lạnh được Thạch Lam thể hiện vô cùng tinh tế. “Thu vịnh” (Nguyễn Khuyến): gợi tả tinh tế cái thanh cao, thanh đạm, thanh nhẹ cùng cái thanh trong, thanh sáng để chúng hợp lại với nhau tạo thành linh hồn thần thái của một bức tranh thu rất đặc sắc của làng cảnh Việt Nam. - Người nghệ sĩ bằng những năng lực trí tuệ riêng, có thể phát hiện ra những cái đẹp, những cái mới vốn ẩn náu trong cuộc sống để cho chúng ta những bài học trông nhìn và thưởng thức. ⇒ Văn học chính là phương tiện chủ yếu để hình thành, phát triển năng lực, thị hiếu thẩm mĩ cho con người. * Trao đổi: Văn học có chức năng thẩm mĩ vậy văn học có viết về cái xấu, cái ác không? - Định hướng lí tưởng thẩm mỹ: là các giá trị thẩm mỹ mong muốn, cần phải có, là lí tưởng về đời sống phù hợp với quan niệm của chúng ta về cái đẹp. - Văn học vẽ ra hình ảnh một xã hội lí tưởng, phản ánh trực tiếp phương diện tích cực của đời sống, thắp lên trong tâm hồn người đọc niềm mơ ước tương lai và ngọn lửa khát khao thay đổi cuộc sống hiện tại. - Tuy nhiên, văn học cũng phản ánh phương diện tiêu cực của đời sống hiện thực và hình tượng các nhân vật phản diện. Để làm được như thế nhà văn phải là người có tâm hồn đẹp, đứng trên đỉnh cao của lí tưởng thẩm mĩ để phản ánh phương diện tiêu cực của đời sống, lấy tâm hồn mà soi sáng những cuộc đời tối tăm, vỗ về những kiếp người đau khổ, cất lên tiếng thét căm hờn hoặc tiếng cười chế nhạo trước cái ác và cái xấu ở đời. Ta nhận ra được thực trạng cần phải đổi thay, hình dung rõ gương mặt của cuộc sống như nó cần phải có. - Gogol: “Có những thời đại, nếu không chỉ ra đến tận cùng toàn bộ cái xấu xa đê 17
  17. tiện của cuộc sống hiện tại, ta sẽ không có cách nào để hướng xã hội tới cái đẹp.” 4. Một số nhận định về chức năng của văn học - “Đối với tôi, văn chương không phải là cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên; trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn.” (Thạch Lam) - “Ngoài việc phản ánh đầy đủ sự thật của đời sống, văn học còn có nhiệm vụ buộc người đọc nhìn chăm chú hơn, nghiêm khắc hơn vào bản thân mình, từ đó hiểu được sâu sắc hơn sự thật của bản thân mình”. (Hoàng Ngọc Hiến) - “Bắt rễ ở cuộc đời hàng ngày, văn nghệ lại tạo được sự sống cho tâm hồn người. Nghệ thuật mở rộng khả năng của tâm hồn, làm cho con người vui buồn nhiều hơn, yêu thương và căm hờn được nhiều hơn, tai mắt biết nhìn, biết nghe thêm tế nhị, sống được nhiều hơn”. (Nguyễn Đình Thi) - “Trước một thế giới tan vỡ hay có nguy cơ tan vỡ. Nhà văn nhặt lại những mảnh vỡ để tái tạo lại chính nó đồng thời kích hoạt những dây đàn cảm xúc của con người.” (Trích dẫn từ bài viết trên Tạp chí sông Hương) - “Tôi nghĩ nếu vẽ một biểu tượng của nghề viết mà tôi đang đeo đuổi, tôi sẽ vẽ hình ảnh của giọt nước mắt hay gần giống như thế. Bởi văn học vẫn còn những rào cản ngôn ngữ. Khi viết về thân phận, nỗi đau, sự bối rối thường trực của con người trước những biến cố của cuộc đời, tôi luôn ao ước những trang viết của mình có được sự rung cảm như những giọt nước mắt.” (Nguyễn Ngọc Tư) - “Mục đích chính của nghệ thuật là nói lên sự thật về tâm hồn con người. Nghệ thuật là chiếc kính hiển vi mà người nghệ sĩ dùng để soi vào những điều bí ẩn của tâm hồn mình và trình bày những điều bí ẩn chung cho mọi người.” (Lev Tolstoy) - “Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng vươn tới chân lý.” (M. Gorki) Sơ đồ tóm tắt kiến thức về CHỨC NĂNG VĂN HỌC 18
  18. Chuyên đề lí luận văn học đặc điểm về cá tính sáng tạo của nhà văn Cá tính sáng tạo của nhà văn 1. Khái niệm - Cá tính sáng tạo là nét riêng, nét độc đáo của nhà văn trong quá trình sáng tác (phong cách sáng tác). - Vì sao nhà văn cần có cá tính sáng tạo trong quá trình sáng tác: + Nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng luôn tối kị sự lặp lại, cũ kĩ, sáo mòn. Chính sự lặp lại, cũ kĩ, sáo mòn sẽ mang lại cái chết cho nghệ thuật. Nghệ thuật luôn đòi hỏi sự sáng tạo. ￿ Yêu cầu tất yếu của văn chương + Văn học phản ánh đời sống theo ý thức chủ quan của tác giả. Sự sáng tạo trong văn học không chỉ đòi hỏi tác phẩm phải phản ánh những khía cạnh mới mẻ của đời sống mà còn đòi hỏi nhà văn phải đóng góp một diện mạo riêng, một bản sắc riêng, một dấu ấn, phong cách riêng. Nhà văn phải là một cá tính sáng tạo. ￿ Tính chất, bản chất của văn chương ⇒ Cá tính sáng tạo của nhà văn vừa là một yêu cầu tất yếu vừa là một tính chất quan trọng của văn học nghệ thuật. 20