Đề ôn tập Ngữ văn 9 - Chủ đề: Truyện thơ Nôm (Có đáp án)
Bạn đang xem tài liệu "Đề ôn tập Ngữ văn 9 - Chủ đề: Truyện thơ Nôm (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_on_tap_ngu_van_9_chu_de_truyen_tho_nom_co_dap_an.docx
Nội dung tài liệu: Đề ôn tập Ngữ văn 9 - Chủ đề: Truyện thơ Nôm (Có đáp án)
- I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm) Đọc văn bản sau: [ ] Cho gươm mời đến Thúc Lang, Mặt như chàm đổ, mình dường dẽ run(1). Nàng rằng: “Nghĩa trọng nghìn non, Lâm Tri người cũ, chàng còn nhớ không? Sâm, Thương(2) chẳng vẹn chữ tòng, Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân? Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân. Tạ lòng dễ xứng, báo ân gọi là. Vợ chàng quỷ quái, tinh ma, Phen này kẻ cắp, bà già gặp nhau! Kiến bò miệng chén chưa lâu, Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa.” [ ] Thoạt trông, nàng đã chào thưa: “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây! Đàn bà dễ có mấy tay, Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan! Dễ dàng là thói hồng nhan, Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều! Hoạn Thư hồn lạc, phách xiêu, Khấu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca. Rằng: “Tôi chút dạ đàn bà, Ghen tuông thì cũng người ta thường tình. Nghĩ cho khi các(3) viết kinh, Với khi khỏi cửa, dứt tình chẳng theo. Lòng riêng, riêng cũng kính yêu, Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai! Trót lòng gây việc chông gai, Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng!”. Khen cho: “Thật đã nên rằng, Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời. Tha ra thì cũng may đời, Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen. Đã lòng tri quá(4) thời nên”. Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay (Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, 2018) Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở cuối phần thứ hai (Gia biến và lưu lạc). Sau khi chịu bao đau khổ, tủi nhục, đọa đày, Thúy Kiều được Từ Hải cứu thoát khỏi lầu xanh và giúp nàng đền ơn trả oán. Đây là đoạn trích tả cảnh Thúy Kiều báo ân báo oán. (1) Dẽ run: người run lên như chim dẽ (có khi viết là giẽ hoặc rẽ), vì chim dẽ có cái đuôi luôn phay phảy như run.
- (2) Sâm, Thương: sao Sâm và sao Thương, sao này mọc thì sao kia lặn, vì vậy thường dùng để so sánh với tình cảnh chia cách không bao giờ có thể gặp mặt. (3) Gác Quan Âm ở nhà Hoạn Thư, nơi Hoạn Thư để cho Kiều ra đó viết kinh. (4) Tri quá: biết lỗi. Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên. Câu 2: Trong câu thơ: “Cho gươm mời đến Thúc Lang”, Thúc Lang ở đây là ai? Câu 3: Câu thơ: “Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay” là lời của ai? Câu 4: Anh/chị hiểu như thế nào về câu: “Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều” ? Câu 5: Câu thơ: “Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai!”gợi cho anh/ chị suy nghĩ gì về số phận của những người phụ nữ trong xã hội xưa? Câu 6: Qua lời nói và hành động của Kiều với Thúc Sinh, anh/chị thấy Kiều là người như thế nào? Câu 7: Nhận xét về những lí lẽ mà Hoạn Thư đưa ra trong màn đối đáp với Thúy Kiều. Câu 8: Anh/chị có đồng tình với hành động “tha bổng” Hoạn Thư của Thúy Kiều hay không? Vì sao? II. VIẾT (4.0 điểm) Anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận về lòng khoan dung. ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM Phầ Câ Nội dung n u I ĐỌC HIỂU 1 Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích là: biểu cảm. 2 Trong câu thơ: “Cho gươm mời đến Thúc Lang”, Thúc Lang ở đây là: Thúc Sinh. 3 Câu thơ: “Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay” là lời của người kể chuyện trong truyện thơ. 4 Câu thơ “Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều” được hiểu là: Những người ghê gớm, tinh ranh, làm điều ác sẽ nhận lấy điều không hay. 5 Câu thơ: “Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai!” nói lên số phận của những người phụ nữ trong xã hội xưa: + Họ phải sống trong xã hội nam quyền, trọng nam khinh nữ. + Họ phải chịu cảnh lấy chồng chung nên hạnh phúc không trọn vẹn, chịu nhiều éo le, ngang trái trong tình duyên. 6 - Lời nói và hành động của Thúy Kiều với Thúc Sinh: + Lời nói: gọi Thúc Sinh là “người cũ”, “cố nhân”; Kiều cũng nhắc đến các khái niệm đạo đức phong kiến như chữ “nghĩa”, ”tòng”, ”phụ”. + Hành động: đem “Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân” để tặng Thúc Sinh. - Qua lời nói và hành động của Kiều với Thúc Sinh, ta thấy Kiều là một người nhân hậu, trọng tình, trọng nghĩa. 7 - Những lí lẽ của Hoạn Thư: (0.5 điểm)
- Hoạn Thư khôn khéo đưa Kiều từ vị thế đối lập trở thành người đồng cảnh, cùng chung “chút phận đàn bà”. Nếu Hoạn Thư có tội thì cũng là do tâm lí chung của giới nữ: “Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”. Từ “tội nhân”, Hoạn Thư đã lập luận để mình trở thành “nạn nhân” của chế độ đa thê. - Nhận xét: Lí lẽ của Hoạn Thư có lí có tình, rất khôn khéo, khiến Kiều phải khó xử. Đặc biệt là câu hỏi: “Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng!” vừa để tôn, đề cao Thúy Kiều là “lượng bể” khiến Thúy Kiều phải “thương bài nào chăng” là rất cao tay. (0.5 điểm) 8 - HS nêu được quan điểm của mình. 0,25 điểm - Lí giải được quan điểm: nội dung lí giải đảm bảo tính logic, thuyết phục, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội. 0,25 điểm Dưới đây là một số định hướng: + Nếu đồng tình với hành động của Thúy Kiều thì có thể lí giải: do lí lẽ mà Hoạn Thư đưa ra khá thuyết phục; hành động tha bổng Hoạn Thư xuất phát từ tấm lòng vị tha bao dung của Kiều, phù hợp với hình tượng Kiều mà Nguyễn Du xây dựng từ đầu tác phẩm. Hành động của Kiều cũng phù hợp với quan niệm độ lượng của nhân dân “Đánh người chạy đi, không ai đánh người chạy lại”. + Nếu không đồng tình với hành động của Kiều thì có thể lí giải: do Hoạn Thư đã gây ra nhiều khổ đau, bất hạnh cho Kiều nên việc Kiều báo thù cũng là điều dễ hiểu, phù hợp với quan niệm của nhân dân từ xưa đến nay “ác giả ác báo”, II VIẾT a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận xã hội b. Xác định đúng vấn đề nghị luận c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, nêu rõ lí do và quan điểm của bản thân, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng thuyết phục. Sau đây là một hướng gợi ý: - Khoan dung: Là thái độ sống, lẽ sống cao đẹp, là phẩm chất, đức tính tốt đẹp của con người mà ở đó con người có sự tha thứ, sự rộng lượng đối với người khác, nhất là những người gây ra đau khổ cho mình - Biểu hiện: Khoan dung trước hết là cách đối xử độ lượng, là biết hi sinh, nhường nhịn, không chấp chiếm đối với người khác; là cách hành xử cao thượng, khoan dung, là tha thứ cho những khuyết điểm, những lỗi lầm mà người khác gây ra cho mình hoặc xã hội (dẫn chứng). - Vai trò: Cần phải khoan dung vì đó là một phẩm chất cao đẹp, một cách ứng xử cao thượng cần được thực hiện, ngợi ca, vì đã là con người thì "vô nhân thập toàn" nên cần phải được đối xử rộng lượng và nhân văn. - Người sống khoan dung sẽ được mọi người yêu mến, quý trọng - Khoan dung giúp con người sống thanh thản, tận hưởng cuộc sống có ý nghĩa hơn! - Bàn luận: + Khoan dung không có nghĩa là bao che, dung túng cho những việc làm sai trái. + Nếu sống không khoan dung con người sẽ nặng trĩu sự thù hận, ghen ghét
- + Để sống khoan dung con người cần có nhận thức đúng đắn, sự giáo dục, bản lĩnh + Ngày nay, vẫn có những người ích kỉ, sống thờ ơ, lạnh nhạt, thiếu đi sự thứ tha, khoan dung...chúng ta cần thức tỉnh họ. - Liên hệ bản thân: nhận thức và hành động. Hướng dẫn chấm: + HS viết đầy đủ, sâu sắc: 2,25 điểm - 2,5 điểm + HS viết đầy đủ nhưng có một vài ý chưa sâu sắc hoặc chưa thật thuyết phục, đầy đủ: 1,5 điểm – 2,0 điểm. + HS viết được ½ số ý: 1,0 điểm - 1,25 điểm + Viết sơ sài: 0,25 điểm - 0,75 điểm (Giáo viên chấm có thể quy về thang điểm 10 để đánh giá đúng lực của học sinh: Xuất sắc, Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu, Kém). d. Chính tả, ngữ pháp Đảm bảo chuẩn ngữ nghĩa, chính tả, ngữ pháp tiếng Việt e. Sáng tạo: Bài viết có giọng điệu riêng, cách diễn dạt sáng tạo, độc đáo, văn phong trôi chảy. Đọc văn bản: Nẻo xa mới tỏ mặt người, Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình. Hài văn lần bước dặm xanh (1), Một vùng như thể cây quỳnh cành dao (2). Chàng Vương quen mặt ra chào, Hai kiều e lệ nép vào cành hoa. Nguyên người quanh quất đâu xa, Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh (3). Nền phú hậu bậc tài danh (4), Văn chương nết đất thông minh tính trời (5). Phong tư tài mạo tót vời (6), Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa (7). [...] Bóng hồng(8) nhác thấy nẻo xa, Xuân lan thu cúc(9) mặn mà cả hai. Người quốc sắc(10) kẻ thiên tài(11) Tình trong như đã mặt ngoài còn e. (Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du, Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú giải, NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, 1991) Đoạn trích nằm trong phần Gặp gỡ (từ câu 141 đến câu 152): Nhân tiết Thanh minh, Thúy Kiều cùng hai em du xuân. Ở đây, nàng gặp Kim Trọng. Chú thích: (1) Hài văn: giày có thêu những đường vân nổi; dặm xanh: lối đi trên bãi cỏ xanh. (2) Cây quỳnh cành dao: quỳnh và dao là hai giống cây cảnh thường được trồng cùng nhau. Ở đây ý nói Kim Trọng bước đi thì cảnh vật xung quanh như bừng lên vẻ đẹp hài hòa, tươi sáng.
- (3) Nhà trâm anh: nhà quyền quý. (4) Nền phú hậu: nền nếp gia đình giàu có; bậc tài danh: người tài giỏi, nổi tiếng. (5) Văn chương nết đất: theo quan niệm xưa, một người tài năng đặc biệt (tài văn chương) là do linh khí, tổ tiên hun đúc nên; thông minh tính trời: tính thông minh do trời phú. (6) Phong tư: dáng điệu, phong thái; tài mạo: vẻ mặt thông minh; tót vời: hơn hết thảy, tột đỉnh. (7) Vào trong phong nhã: chỉ tính cách phong lưu, tao nhã; ra ngoài hào hoa: chỉ việc giao tiếp rộng rãi, ứng xử lịch sự, hào hiệp. (8) Bóng hồng: chỉ người con gái (9) Xuân lan thu cúc: ý nói hai chị em Thúy Kiều, Thúy Vân mỗi người có một vẻ đẹp riêng (như hoa lan mùa xuân, hoa cúc mùa thu). (10) Người quốc sắc: người có sắc đẹp nổi tiếng trong cả nước, chỉ Thúy Kiều. (11) Kẻ thiên tài: người có tài năng đặc biệt được trời phú cho, chỉ Kim Trọng. Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Đoạn trích có những nhân vật nào và kể về sự việc gì? Câu 2. Nhân vật Kim Trong được miêu tả qua những chi tiết nào? Câu 3. Nêu nội dung của hai câu thơ: Hài văn lần bước dặm xanh, Một vùng như thể cây quỳnh cành dao. Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp đối trong hai câu thơ: Người quốc sắc kẻ thiên tài Tình trong như đã mặt ngoài còn e. Câu 5. Anh/Chị thích câu thơ nào nhất trong đoạn trích? Vì sao? GỢI Ý Câu Đáp án gợi ý 1 - Đoạn trích có những nhân vật: Kim Trọng, 3 chị em Thúy Kiều (Vương Quan, Thúy Vân, Thúy Kiểu). - Đoạn trích kể về cuộc gặp gỡ giữa Kim Trọng và chị em Thúy Kiều trong buổi du xuân. 2 Nhân vật Kim Trong được miêu tả qua những chi tiết: - Tên tuổi: Họ Kim tên Trọng - Gia thế: xuất thân nhà trâm anh - Tài năng: văn chương nết đất, thông minh tính trời - Phong thái: tót vời, vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa. 3 Nội dung của hai câu thơ: + Miêu tả bước đi khoan thai, nho nhã, thanh tao của Kim Trọng. + Sự xuất hiện của Kim Trọng khiến cảnh vật xung quanh bừng lên vẻ đẹp hài hòa, trong sáng. 4 Hai câu thơ: Người quốc sắc kẻ thiên tài Tình trong như đã mặt ngoài còn e. - Phép tiểu đối trong hai câu thơ là: người quốc sắc – kẻ thiên tài; tình trong như đã – mặt ngoài còn e. - Tác dụng của phép đối:
- + Nhấn mạnh sự xứng đôi giữa Thúy Kiều và Kim Trọng, dự báo trước một mối tình đẹp. + Làm nổi bật tình cảm của cả hai dành cho nhau, tuy không nói ra nhưng trong lòng đã ưng nhau ngay từ lần đầu gặp gỡ. + Tạo nên sự cân xứng cho lời thơ. 5 HS bày tỏ suy nghĩ, lí giải. Đề số 02: Đọc văn bản: So dần dây vũ dây văn(1) Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương(2) Khúc đâu Hán Sở chiến trường(3) Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng(4) chen nhau Khúc đâu Tư Mã Phượng Cầu(5) Nghe ra như oán như sầu phải chăng! Kê Khang(6) này khúc Quảng Lăng Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân(7) Quá quan(8) này khúc Chiêu Quân Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia Trong như tiếng hạc bay qua Đục như nước suối(9) mới sa nửa vời Tiếng khoan như gió thoảng ngoài Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa Ngọn đèn khi tỏ khi mờ Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu Khi tựa gối khi cúi đầu Khi vò chín khúc(10) khi chau đôi mày. (Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du, Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú giải, NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, 1991) Đoạn trích trên trích từ câu 471 đến câu 488 trong Truyện Kiều, kể về việc Thúy Kiều sang nhà Kim Trọng đánh đàn cho chàng nghe. Chú thích: (1) Vũ, văn: Vũ là dây đàn to, văn là dây đàn nhỏ. (2) Cung thương: hai âm đứng đầu ngũ âm trong cung bậc nhạc cổ Trung Quốc (cung , thương, giốc ,trủy, vũ) (3) Hán sở chiến trường: Bãi chiến trường giữa đời Hán, và nước Sở. Cuối đời Tần, Lưu Bang (Hán Cao tổ) và Hạng Vũ (Sở Bá vương) đánh nhau nhiều trận kịch liệt. (4) Tiếng sắt, tiếng vàng: Tiếng khí giới bằng sắt, bằng kim loại va chạm xô xát nhau. (5) Tư mã phượng cầu: Tư mã Tương Như người đời Hán, có văn tài, ở đất Lâm Cùng, Trác Vương Tôn, có con gái là Văn Quân, người đẹp mà mới goá chồng. Tương Như gẩy khúc đàn “Phượng cầu hoàng” để tỏ tình với Văn Quân cảm tiếng đàn, đêm ấy, bỏ nhà trốn theo Tương Như.
- (6) Kê Khang, đời Tam quốc, đêm gẩy đàn cầm ở đình Hoa Dương, bỗng có người khách lạ tới dạy cho khúc “Quảng Lăng tán”, âm điệu tuyệt hay. (7) Lưu thuỷ, hành vân: Nước chảy, mây bay. ý nói khúc đàn thanh thoát lưu loát. (8) Quá quan: Đi qua cửa ải. Chiêu Quân: Tên chữ của Vương Tường, một cung nữ đời Hán Nguyên đế, bị gả cho chúa Hung nô, khi qua cửa ải, vào đất Hung nô, Chiêu Quân thường gảy khúc đàn tỳ bà để tỏ nỗi lòng nhớ nhà, nhớ nước. (9) Nước suối: Tiếng đàn nghe đục như tiếng ầm ì của dòng suối dội ở lưng chừng núi xuống. (10) Chín khúc: Chỉ các khúc ruột chứ không nhất thiết phải đúng chín khúc ruột. Trả lời các câu hỏi sau: Câu 1. Xác định các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích. Câu 2. Tiếng đàn của Thúy Kiều được so sánh với những âm thanh nào? Câu 3. Phân tích tác dụng của phép so sánh được sử dụng trong hai câu thơ sau: “Tiếng khoan như gió thoảng ngoài Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa” Câu 4. Nhận xét tình cảm, thái độ của Nguyễn Du qua đoạn trích. Câu 5. Anh/Chị hãy có suy nghĩ gì về ý nghĩa của âm nhạc đối với đời sống tinh thần của con người? GỢI Ý Câu Đáp án gợi ý 1 Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích: Tự sự, miêu tả, biểu cảm. 2 Tiếng đàn của Thúy Kiều được so sánh với những âm thanh: Tiếng của chiến trường: Tiếng sắt, tiếng vàng; tiếng nước chảy (lưu thủy); tiếng mây bay (hành vân); tiếng hạc; tiếng suối; tiếng gió; tiếng mưa. 3 - Biện pháp tu từ so sánh: so sánh tiếng đàn của Thúy Kiều với tiếng gió thổi, tiếng mưa rơi. - Tác dụng: + Nhấn mạnh những âm điệu phong phú, đa dạng trong tiếng đàn của Thúy Kiều. + Thể hiện sự ngợi ca của nhà thơ đối với tài năng của Thúy Kiều, cũng kín đáo dự báo cuộc đời nhiều sóng gió đổi thay của nàng. + Làm cho cách diễn đạt sinh động, giàu hình ảnh, gợi nhiều liên tưởng cho người đọc. 4 Nhận xét về tình cảm của Nguyễn Du qua đoạn trích: - Ngợi ca, trân trọng tài năng đàn hơn người của Thúy Kiều. - Bộc lộ nhiều trăn trở, dự báo của nhà thơ về số phận nhiều sóng gió, truân chuyên của Kiều. 5 Suy nghĩ gì về ý nghĩa của âm nhạc đối với đời sống tinh thần của con người: Âm nhạc có ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống tinh thần của con người: + Âm nhạc đưa con người dễ dàng xích lại gần nhau, thấu hiểu, cảm thông và đồng điệu. + Âm nhạc giúp tâm hồn con người rộng mở, tình cảm phong phú hơn, tâm hồn nhạy cảm hơn, bồi đắp thêm sự phong phú trong tâm hồn. + Âm nhạc giúp con người hiểu thêm về thế giới sâu thẳm của tâm hồn mình, hiểu thêm về cuộc sống , con người.

