Báo cáo Chuyên đề Một số định hướng trong công tác giảng dạy, ôn tập để nâng cao chất lượng đại trà môn Ngữ văn 9
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Chuyên đề Một số định hướng trong công tác giảng dạy, ôn tập để nâng cao chất lượng đại trà môn Ngữ văn 9", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_chuyen_de_mot_so_dinh_huong_trong_cong_tac_giang_day.doc
Nội dung tài liệu: Báo cáo Chuyên đề Một số định hướng trong công tác giảng dạy, ôn tập để nâng cao chất lượng đại trà môn Ngữ văn 9
- MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG TRONG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY, ÔN TẬP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẠI TRÀ MÔN NGỮ VĂN 9. I.Đặt vấn đề: Có thể nói, trong việc thực hiện mục tiêu chung của chương trình bậc THCS, môn Ngữ văn có một vị trí quan trọng đặc biệt. Là môn học không những cung cấp kiến thức mà còn có ý nghĩa rất lớn trong việc bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Nhận thức được điều đó, trong những năm gần đây, cùng với việc đổi mới phương pháp dạy học ở các môn học khác, môn Ngữ văn đã có bước chuyển mình trong việc vận các phương pháp, hình thức tổ chức trong quá trình dạy học. Tuy nhiên, với đặc trưng của bộ môn, đặc biệt trong xu thế hiện nay, để nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn phải là một sự cố gắng không ngừng nghỉ. Chuyên đề xin được đưa ra một số định hướng trong công tác giảng dạy, ôn tập môn Ngữ văn lớp 9. II. Giải quyết vấn đề. 1. Để nâng cao chất lượng các giờ dạy. a) Tạo hứng thú trong giờ học: Khác với các môn học khác, không khí của giờ học Ngữ văn là không khí của văn chương nghệ thuật. Ở trong bầu không khí ấy, sự gần gũi của giáo viên sẽ mang đến sự cởi mở, tự tin cho học sinh; niềm yêu mến chân thành của người giáo viên sẽ là cảm hứng trong việc hướng dẫn học sinh lĩnh hội kiến thức. Ở trong bầu không khí ấy, giáo viên và học sinh đều bình đẳng cùng thảo luận vấn đề. Khi đó giáo viên và học sinh từ ngôn ngữ, cử chỉ, hành động, nhân cách đều phải đẹp. Con đường đi đến với vẻ đẹp của tác phẩm cũng phải mang tính nghệ thuật. Đó phải chăng là sự kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật sư phạm và nghệ thuật cảm thụ. Khi có được sự hài hòa ấy sẽ tạo ra hứng thú cho giờ dạy học văn. Bởi thế, dạy Ngữ văn cũng cần phải có năng khiếu. Nếu như giáo viên chưa say mê, chưa nhiệt tình, giảng dạy chưa hay thì cũng khó có thể tạo ra hứng thú học tập ở học sinh. Hơn nữa, việc chuẩn bị tâm thế học tập cho học sinh cũng là khâu có ý nghĩa đối với việc tạo ra hứng thú học tập. Chú ý khâu này sẽ khắc phục được thái độ thờ ơ, thụ động của học sinh. Dĩ nhiên, khơi gợi hứng thú cho học sinh có thành công hay không chủ yếu dựa vào các hình thức, phương pháp giáo viên thể hiện trong mỗi giờ dạy. Một giờ dạy lôi cuốn học sinh trước hết là ở nghệ thuật dẫn dắt của giáo viên. Trên cơ sở nắm vững kiến thức trọng tâm bài học, giáo viên chú ý đến tính vừa sức, điều tiết thích hợp để tránh sự nhàm chán, mạnh dạn tinh giản kiến thức, tránh ôm đồm, quá tải làm cho học sinh cảm thấy bài học khó. Tăng cường giao tiếp trong giờ học cũng là một biện pháp tạo hứng thú hoc tập. Để làm được điều này, giáo viên cần tạo ra được những tình huống có vấn đề để gợi mở suy nghĩ của học sinh. Tạo điều kiện để học sinh tranh luận, thảo luận bảo vệ ý kiến của mình khi có những ý kiến trái chiều. Hoạt động giao tiếp trong giờ học cần được thực hiện nhịp nhàng trong tiến trình của một tiết học. Như vậy, tạo bầu không khí trong giờ học Ngữ văn với sự nổ lực hết mình, với tinh thần đam mê, nhiệt huyết của giáo viên và học sinh thì chúng ta sẽ làm được. 1
- b) Rèn luyện những kỹ năng cần thiết: Môn học nào cũng vậy, học sinh cần phải được giáo viên bộ môn rèn luyện một số kỹ năng để lĩnh hội kiến thức. Đối với môn Ngữ văn, việc rèn luyện kỹ năng học tập cần thực hiện một cách toàn diện, thường xuyên. Trước hết, giáo viên cần rèn luyện cho hoc sinh kỹ năng chuẩn bị bài ở nhà. Trong thực tế giảng dạy, nhiều học sinh chưa thực sự chủ động trong học tập, ít tham tham gia phát hiểu xây dựng bài. Sở dĩ có hiện tượng này là do học sinh chưa chuẩn bị bài ở nhà, chưa đọc văn bản hoặc chỉ đọc lướt qua. Đến lớp nghe thầy đọc cũng chính là lúc học sinh được nghe lần đầu tiên, vậy thì làm sao có thể phát huy được tính năng động, tích cực của học sinh. Chính vì thế, hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài, đọc trước văn bản cần được xem như là một kỹ năng không thể thiếu trong dạy học Ngữ văn. Bởi vì, đọc là hành động đánh thức tác phẩm. Đọc tác phẩm là nốt nhạc khởi động đầu tiên để đi vào thế giới tác phẩm, là bước gợi mở quan trọng để người đọc tiếp nhận trực tiếp tác phẩm. Điều quan trọng là giáo viên cần làm cho học sinh nhận thức được ý nghĩa của việc đọc tác phẩm, học sinh xem việc đọc tác phẩm là một khâu không thể thiếu, cần được làm trước khi tiếp nhận tác phẩm. Tuy nhiên, việc rèn luyện kỹ năng chuẩn bị bài ở nhà của học sinh đối với môn Ngữ văn không dừng lại ở việc rèn luyện kỹ năng đọc trước văn bản. Sau khâu đọc văn bản, bẳng cảm thức ngôn ngữ, học sinh bước đầu tìm hiểu tác phẩm. Ở khâu này, trước đây, giáo viên thường yêu cầu học sinh tự trả lời các câu hỏi ở phần Đọc - hiểu sau mỗi văn bản. Trên thực tế, học sinh đều cảm thấy khó trước những câu hỏi đó. Khi cảm giác khó xuất hiện thì hiển nhiên học sinh sẽ kiếm tìm phương án, và khi đó những câu trả lời ở các tài liệu tham khảo sẽ được học sinh đưa y nguyên vào phần chuẩn bị bài. Từ thực tế ấy, trong quá hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài, giáo viên cần hướng dẫn, rèn luyện cho học sinh bước đầu tìm hiếu tác phẩm heo những khía cạnh đặc trưng nhất của mỗi thể loại. Đối với thể loại truyện, có thể hướng dẫn học sinh xác định, tìm hiểu cơ bản những yếu tố sau: - Ngôi kể - Tóm tắt các sự việc chính của tác phẩm? - Nêu tình huống? - Hệ thống nhân vật? Đặc diểm của nhân vật? - Cách miêu tả nhân vật: Tả ngoại hình, tả nội tâm bẳng ngôn ngữ đối thoại, độc thoại nội tâm? - Ngôn ngữ tác phẩm: Ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ kể chuyện, giọng kể? Đối với thể loại thơ, hướng dẫn học sinh tìm hiểu những yếu tố cơ bản sau: - Thể thơ? - Hình ảnh thơ? - Ngôn ngữ thơ? - Các biện pháp tu từ? Cùng với việc đổi mới phương pháp dạy, các hình thưc tổ chức dạy học giáo viên cần phải linh động trong quá trình hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài. Đối với việc tiếp nhận tác phẩm văn học thì đây chính là bước đầu tiên có ý nghĩa quan trọng. 2
- Tiếp theo chính là rèn kỹ năng tiếp nhận tác phẩm cho học sinh trong giờ học. Một điều hiển nhiên là giáo viên nhất định cần hướng dẫn học sinh tìm hiếu, tiếp nhận tác phẩm theo đặc trưng thể loại. Tuy nhiên, để rèn luyện thành công kỹ năng này đối với học sinh THCS, đòi hỏi giáo viên cần phải tin vào năng lực thi công của bản thân mình. Trong đó quan trọng nhất chính là cần phải đa hệ thống câu hỏi để phát triển tư duy của học sinh: Gợi mở, nêu vấn đề, giúp học sinh tự phát hiện ra cái hay, cái đẹp, tự chiếm lĩnh, cảm thụ văn bản. Thực tế cho thấy muốn phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh trong giờ học thì phải có hệ thống câu hỏi đa dạng, phong phú, phù hợp với đối tượng học sinh. Dựa vào tính chất của hoạt động nhận thức có thể có các loại câu hỏi vấn đáp: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích, vấn đáp tìm tòi. Dựa vào đặc trưng của hoạt động học tập có thể sử dụng các kiểu câu hỏi từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp lên cao, từ cụ thể đến khái quát: câu hỏi, bài tập nhận biết, phát hiện; câu hỏi bài tập kích thích tư duy, tưởng tượng; câu hỏi bài tập tái hiện kiến thức; câu hỏi bài tập phân tích đánh giá; câu hỏi bài tập sáng tạo, Cũng có thể xây dựng hệ thống câu hỏi dựa trên nhiệm vụ cụ thể của mỗi giờ học văn. Tuy nhiên, làm thế nào để có hệ thống câu hỏi phù hợp với mỗi giờ học và phát huy một cách có hiệu quả, giúp học sinh tham gia tích cực vào quá trình chiếm lĩnh tác phẩm văn chương. Cuối cúng chính là rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản cho học sinh. Trong ba phân môn đọc hiểu, tiếng viêt, và làm văn, dạy làm văn hay dạy tạo lập văn bản là thử thách lớn nhất đối với giáo viên giảng dạy Ngữ văn. Trong thực tế giảng dạy có nhiều học sinh không có kỹ năng tạo tập văn bản và vì không có kỹ năng tạo lập văn bản nên học sinh phải tìm đến các bài văn mẫu và đưa vào bài viết của mình.Trong quá trình rèn luyện học sinh kỹ năng tạo lập văn bản, giáo viên cần xác định tạo lập văn bản phải là một tiến trình. Trong tiến trình ấy, việc rèn luyện kỹ năng xây dựng đoạn văn phải đặc biệt chú trọng bởi đoạn văn là đơn vị tạo thành văn văn bản. Hơn nữa mỗi kiểu văn bản lại có cách tạo lập khác nhau. Tạo lập văn bản là một tiến trình tư duy phức tạp không theo một đường thẳng và gồm nhiều giai đoạn.Viết là một tiến trình tư duy, là hành động khám phá ý tưởng của học sinh qua các giai đoạn trước, trong và sau khi viết. Vì thế giáo viên cần rèn luyện cho học sinh kỹ năng lập kế hoạch, nháp, chỉnh sửa. Trong tiến trình này học sinh sẽ được phát triển các năng lực tư duy như: phân tích, đánh giá, suy ngẫm, tự điều chỉnh và học cách diễn đạt ý tưởng. Để làm được điều này, giáo viên cần phải tạo ra môi trường hoc tập để học sinh có nhiều cơ hội đánh giá và tự đánh giá; giáo viên khuyến khích trợ giúp học sinh trong suốt tiến trình viết. Đặc biệt giáo viên cần thực sự kiên nhẫn: kiên nhẫn cho học sinh đủ thời gian, kiên nhẫn đọc và chấm chữa văn bản học sinh đã tạo lâp. Sự kiên nhẫn này không phải là ngày một ngày hai mà là thể hiện trong suốt cả quá trình dạy học. Như vậy, việc rèn luyện kỹ năng: kỹ năng chuẩn bị bài, kỹ năng đọc hiểu văn bản và kỹ năng tạo lập văn bản là một trong những nhiệm vụ đòi hỏi giáo viên bộ môn Ngữ văn cần phải thực hiện một cách đồng thời và thường xuyên. c) Đa dạng hóa các hình thức kiểm tra đánh giá: 3
- Kiểm tra đánh giá là hai khâu có quan hệ mật thiết trong một hoạt động dạy học Với bộ môn Ngữ văn, khi kiểm tra đánh giá học sinh cần hướng tới những năng lực đặc thù do môn học đảm nhận đó chính là: Năng lực tiếp nhận văn bản: gồm các kỹ năng nghe và đọc; năng lực tạo lập văn bản: gồm các kỹ năng nói và viết. Để học sinh đạt được những năng lực ấy, giáo viên cần chuyển chủ yếu đánh giá kết quả học tập cuối môn, cuối khóa để xếp hạng học sinh bằng đánh giá thường xuyên theo chủ đề nhằm phản hồi điều chỉnh quá trình dạy học; chuyển chủ yếu đánh giá kiến thức kỹ năng bằng đánh giá năng lực; chuyển trọng tâm đánh giá chủ yếu ghi nhớ, hiểu kiến thức bằng đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết vấn đề thực tiễn, chú trọng đánh giá tư duy bậc cao như tư duy sáng tạo. Điều này đòi hỏi giáo viên cần áp dụng các hình thức kiểm tra đánh giá một cách đa dạng và linh hoạt. Việc đánh giá học sinh sẽ qua nhiều kênh: qua hoạt động trên lớp, qua hồ sơ học tập, qua báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập, qua bài thuyết trình, Giáo viên có thể mạnh dạn sử dụng các hình thức đánh giá trên thay cho các bài kiểm tra hiện hành. Làm thế nào để kiểm tra đánh giá là khâu thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học 2. Một số định hướng trong việc hướng dẫn học sinh thực hiện các câu hỏi trong cấu trúc đề kiểm tra đánh giá chất lượng đại trà môn Ngữ văn 9. a) Đối với phần đọc hiểu: - Hướng học sinh đến khả năng chuẩn bị tâm lý với các ngữ liệu ngoài sách giáo khoa. - Hướng học sinh đến cách xác định PTBĐ: Đơn vị ngôn ngữ, ngữ liệu viết ra để làm gì? Xác định mục đích chứ không phải phương tiện. - Hướng dẫn học sinh từ mục đích ấy có thể xác định nội dung của ngữ liệu. - Đối với loại câu hỏi liên quan đến tác dụng của các biện pháp tu từ, hướng dẫn học sinh làm ngắn gon: Chỉ nêu tên bptt và nêu tác dụng. - Đối với câu hỏi tại sao hướng dẫn học sinh dựa vào nội dung trên ngữ liệu để giải thích. - Thời gian: 5 – 7 phút. b) Đối với phần nghị luận xã hội. - Hướng dẫn học sinh mô hình làm bài của các dạng bài. - Vận dụng linh hoạt các mô hình đó. - Cung cấp hệ thống dẫn chứng về các vấn đề xã hội. - Cách đưa dẫn chứng trong từng biểu hiện. - Luyện kỹ năng viết trong giới hạn thời gian 30-35 phút. c) Đối với phần nghị luận văn học: Chủ yếu tập trung hai dạng bài: Cảm nhận đoạn thơ, bài thơ và cảm nhận nhân vật. - Hướng dẫn học sinh dàn ý chung cho từng dạng, vận dung linh hoạt dàn ý. - Cách triền khai từng luận điểm, cách đưa dẫn chứng và phân tích dẫn chứng. - Kỹ năng liên hệ trong từng luận điểm. - Luyện kỹ năng viết trong giới hạn thời gian 50 phút. III. Kết thúc vấn đề. Như vậy, làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Ngữ văn nói chung và môn ngữ văn 9 nói riêng trong tình hình hiện nay? Đó chính là câu hỏi 4
- mà bản thân tôi cũng như nhiều giáo viên phải trăn trở. Trên đây chỉ là những suy nghĩ, những hình thức bản thân đã thể hiện trong quá trình giảng dạy, xin được chia sẽ cùng đồng chí, đồng nghiệp. 5

