Tài liệu ôn tập Lịch sử 11 - Phong trào Khánh chiến chống Pháp (1858-1884)

docx 22 trang LinhLan 25/06/2026 920
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu ôn tập Lịch sử 11 - Phong trào Khánh chiến chống Pháp (1858-1884)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxtai_lieu_on_tap_lich_su_11_phong_trao_khanh_chien_chong_phap.docx

Nội dung tài liệu: Tài liệu ôn tập Lịch sử 11 - Phong trào Khánh chiến chống Pháp (1858-1884)

  1. CHUYÊN ĐỀ 1: PHONG TRÀO KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP ( 1858- 1884) • NHỚ • CHIA LÀM 2 GIAI ĐOẠN LỚN : • Chống pháp từ 1858-1873 ( Chống pháp của ND MN) +Từ 1858-1862: Pháp Tấn công Đà Nẵng và đánh chiếm các tỉnh miền đông NK + Từ 1862- 1867: Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ , nhân dân miền Tây anh dũng chiến đấu. • Chống Pháp từ 1873- 1884 ( Chống pháp của ND MB) +Từ 1873-1874: Thực dân pháp đánh chiếm BK lần thứ nhất + Từ 1882-1883: Thực dân pháp đánh chiếm BK lần thứ 2 + Từ 1883- 1884: Thực dân pháp tấn công cửa biển Thuận An • Phong trào kháng chiến chia làm 2 giai đoạn : + Giai đoạn 1: Từ 1858- 1862: Là giai đoạn chống Pháp của ND ta còn gắn bó với triều đình , ND bên cạnh triều đình +Giai đoạn 2: Từ 1862- 1884: PT KC của ND ta tách khỏi triều đình , ND chiến đấu tự lực khắp mọi nơi , lúc này triều đình ngăn cản PTKC của ND ta , đàn áp PTKC , mặc dù vậy , nhưng PT vẫn tiếp tục phát triển • PTKC của ND ta có tác dụng : Vừa chống TDPXL vừa chống PK đầu hàng . Các nhà yêu nước, các anh hùng tiêu biểu : Tôn Thất Thuyết ; Nguyễn Tri Phương; Nguyễn Trung Trực, Hoàng Diệu; Nguyễn Hữu Huân , Nguyễn Đình Chiểu . • Các hiệp ước mà Pháp ép triều đình nhà Nguyễn ký : + Hiệp ước Nhâm Tuất ( 5-6-1862) + Hiệp ước Giáp tuất (15-3-1874) + Hiệp ước Hác Măng (25-8-1883) + Hiệp ước Pa Tơ nốt (6-6-1884) A.. Kiến thức cơ bản 1. Tình hình VN trước khi TDP XL – sự khủng hoảng của chế độ quân chủ chuyên chế : * Trước khi p XL VN là 1 quốc gia ĐL có chủ quyền , song chế độ PK lâm vào suy yếu khủng hoảng nghiêm trọng +Chính trị- quân sự: - Đối nội : Triều nguyễn ra sức cũng cố chế độ quân chủ chuyên chuyên chế , quyền lực tập trung trong tay vua, chổ dựa của nhà nước là giai cấp địa chủ , tư tưởng nho giáo được đề cao - Đối ngoại: có nhiều sai lầm , nhất là việc cấm đạo , đuổi giáo sỹ phương tây - Quân sự : Lạc hậu - kinh tế : Nông nghiệp sa sút , ruộng đất bị địa chủ cường hào bao chiếm , mất mùa đói kém , dân lưu tán khắp nơi + Tài chính khó khăn : + Xã hội : - Đời sống ND ngày càng khổ cực , mâu thuẩn XH trở nên sâu sắc Pháp - Nhiều cuộc KN của nông dân nổ ra như KN của phan Bá Vành , Lê văn Khôi , quốc phòng yếu kém , điều này ảnh hưởng đến việc chống lại sự XL của tư bản phương tây .
  2. - Khả năng phòng thủ đất nước bị giảm sút , quốc phòng yếu kém . Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc chống lại sự XL của các nước tư bản phương tây . 2. Nguyên nhân TDP XLVN - thực dân Pháp ráo riết XL VN : 5 ý + Đầu TK XIX, CNTB phương tây đã phát triển với tốc độ nhanh . Để thu được nhiều lợi nhuận , các nước tư bản một mặt bóc lột ND lao động trong nước , mặt khác đẩy mạnh xâm chiếm thuộc địa nhằm mở rộng tiêu thụ hàng hóa , vơ vét nguyên liệu , bóc lột đội ngũ CN rẻ mạt . Ở Phương Đông , trong đó có VN đất t rộng , người đông , tài nguyên phong phú nhưng còn bị chìm đắm trong vòng chế độ PK chuyên chế đã suy tàn , đây là đối tượng trong sự dòm ngó của phương tây , đặc biệt là Pháp . + VN là ngã ba của Đông Dương rất thuận lợi cho vận tải hàng hóa đường biển nên dễ xâm chiếm, vơ vét của cải để mang về chính quốc + VN là nước có nguồn nhân công rẻ mạt và thị trường tiêu thụ lớn + Đến giữa TK XIX, Pháp xúc tiến LVN vì lúc này chủ nghĩa tư bản pháp chuyển sang giai đoạn CNĐQ và cuộc chạy đua giành giật thị trường ở phương đông , nhất là VN trở nên gay gắt và quyết liệt . +Lấy cớ triều đình Huế không nhận quốc thư, làm nhục quốc thể nước Pháp và bênh vực đạo thiên chúa đang bị khủng bố ở VN, TDP phối hợp với Tây Ban Nha đem tàu chiến đến bắn phá ĐN , mở đầu cuộc XL nước ta . 3. Vì sao VN rơi vào tay Pháp vào cuối TK XIX +Khi TDPXL nước ta , dáng lẽ ra triều đình Huế phải cùng ND đứng lên chống lại sự XL của TDP , song triều đình nhà Nguyễn từng bước đầu hàng giặc để nước ta trở thành thuộc địa của pháp vào cuối TK XIX +Nhà Nguyễn nắm lấy ngọn cờ DT trực tiếp chống Pháp nhưng lại hè nhát , đặt quyền lợi giai cấp , dòng họ lên trên quyền lợi dân tộc nên không động viên được sức mạnh toàn dân , không đoàn kết được các DT trong KC. + Nhà Nguyễn với thái độ cầu hòa , bản chất hèn nhát sợ Pháp , kế sách đánh địch không phù hợp , không kiên quyết chống giặc nên không phát huy được sức mạnh của ND ta . +Quá trình đầu hàng thể hiện qua các nội dung các bản hiệp ước mà triều đình ký với Pháp nhượng cho Pháp nhiều quyền lợi - Hiệp ước NT( 1862) thừa nhận quyền cai quản của Pháp ở 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ và đảo Côn lôn . - Hiệp ước GT (1874) thừa nhận 6 tỉnh Nam Kỳ thuộc pháp . - Hiệp ước HM ( Qúy mùi 1883) thừa nhận nền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kỳ , Trung kỳ . - Hiệp ước Pa tơ Nốt ( 1884) chấm dứt sự tồn tại của chế độ PK nhà Nguyễn và thay vào đó là chế độ thuộc địa nữa PK 4. Tại sao , vì sao TDP chọn Đà Nẵng làm mục tiêu nổ súng đầu tiên : 3 ý + ĐN có vị trí chiến lược quan trọng , đây là 1 hải cảng sâu và rộng , thuận lợi cho triển khai hoạt động của hải quân lại nằm trên đường thiên lý Bắc – Nam . Hậu phương ĐN là vùng đống bằng Nam – Ngãi có thể lợi dụng để thực hiện âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” + Tại đây , P đã chuẩn bị trước 1 số cơ sở gián điệp làm nội ứng khi P tấn công . + ĐN cách Huế 100km , nếu chiếm được ĐN , quân Pháp kéo quân ra đánh thẳng vào kinh đô Huế buộc triều đình nhà Nguyễn đầu hàng . Pháp có thể kết thúc nhanh chóng chiến tranh .
  3. 5.a Quá trình TDP XL và cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta từ 1858 – 1883 a. Chiến sự Đà Nẵng năm 1858 : 8 ý + Chiều 31-8-1858 , liên quân Pháp – TBN dàn trận trước cửa biển Đà Nẵng - đây là vị trí chiến lược quan trọng , nếu chiếm được sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” +Sáng 1-9-1858, Liên quân Pháp – TBN đã nổ súng rồi đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà. Mở đầu cuộc XLVN . + Tiếng súng XL của quân Pháp tại ĐN đã làm giấy lên 1 làn sóng ĐT mạnh mẽ trong ND để bảo vệ tổ quốc . + Triều đình cử Nguyễn Tri Phương làm tổng chỉ huy mặt trận chống pháp tại ĐN, Ông huy động ND đắp lũy ngăn không cho giặc tiến sâu vào nội địa , NG được lệnh làm “vườn không nhà trống” gây cho Pháp nhiều khó khăn . +Đốc học Phạm văn Nghị đem 300 quân từ Nam Định vào Nam xin vua ra chiến trường chiến đấu . + Đội quân của Phạm Gia Vĩnh đã phối hợp chặt chẽ với quân triều đình chống giặc + Sau 5 tháng quân Pháp bị giam chân tại chổ , lực lượng hao mòn dần , chúng chỉ chiếm được bán đảo Sơn trà . + Cuộc KC của ta bước đầu làm thất bại âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp . b. Chiến sự Gia Định và các tỉnh Nam Kỳ ( 6 tỉnh ): +Tháng 2-1859, P kéo quân vào Gia Định , ngày 17- 2- 1859 , P đánh thành Gia Định. + khi pháp đánh vào Gia dịnh, PT KC của ND ta vô cùng sôi nổi , các đội nghĩa binh ngày đêm bám sát, tìm cách bao vây tiêu diệt địch , NTP làm tổng chỉ huy ở MT GĐ . -Nghĩa quân NTT đánh chìm tàu Ét Pê răng ( hy vọng ) trên sông vàm Cỏ Đông vào ngày 10- 12-1861, làm nức lòng ND ta. - Sau khi triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước Nhâm Tuất (1862), bất chấp lệnh bãi binh của triều đình , bất chấp lệnh bãi binh của triều đình , PT chống pháp vẫn tiếp tục dâng cao , tiêu biểu là cuộc KN do Trương Định lãnh đạo đánh cho địch thất điên bát đảo. Ngọn cờ “bình tây đại nguyên soái” của Trương Định đã mang đến cho ND Nam Kỳ niềm tin tưởng đồng thời khiến bè lũ cướp nước và bán nước phải khiếp sợ . -PT “Tị địa”- bất hợp tác với giặc diễn ra rất sôi nổi ,các đội nghĩa quân vẫn không chịu hạ vũ khí mà hoạt động ngày càng mạnh mẽ . -Sau khi TDP chiếm được 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ và 3 tỉnh miền tây nam kỳ , mặc cho triều đình ra sức ngăn cản , nhưng cuộc KC của ND ta càng diễn ra sôi nổi , mạnh mẽ , nhiều trung tâm KC được lập ra như Đồng Tháp mười, Tây Ninh, Bến Tre, Vĩnh Long, Hà Tiên .nhiều người thà chết chứ không chịu hợp tác với giặc . -Một số nhà nho yêu nước tìm đường ra bình thuận ( Nam trung kỳ )lập ra đồng châu Xã do nguyễn Thông đứng đầu để giúp đỡ nhau và XD căn cứ ở tánh linh nhằm mưu cuộc KC lâu dài .Một số khác kiên trì bám đất , bám dân , tiến hành cuộc ĐT vũ trang quyết liệt với kẻ thù -2 anh em Pha Tôn, Phan Liêm chỉ huy nghĩa quân hoạt động ở Bến Tre, Vĩnh Long , Sa Đéc trong 2 năm (1867- 1868) -Nguyễn Hữu Huân 2 lần bị giặc bắt được thả ra ông tiếp tục kháng chiến . -Nghĩa quân NTT đánh chiếm và làm chủ Rạch giá ( 6-1867);
  4. -KN của Trương Quyền ở Tây Ninh đã phối hợp với người khơ me , người thượng XD cở chống Pháp . -ĐT của các nho sỹ : Nhiều người dùng văn thơ làm vũ khí chống Pháp như Nguyễn Đình Chiểu , Phan Văn Trị . *Tại MT Bắc Kỳ ( bắc kỳ lần 1 và bắc kỳ lần 2): +Ngày 20-11- 1873, quân pháp nổ sáng đánh thành Hà nội . Tại cửa ô Thanh Hà , dưới sự chỉ huy của viên chưởng cơ , khoảng 100 binh lính triều đình đã chiến đấu và hy sinh đến người cuối cung . +Tổng đốc Nguyễn Tri Phương và con trai là nguyễn Lâm đã anh dũng hy sinh để bảo vệ thành Hà Nội trong lần Pháp đánh BK lần thứ nhất + Thành HN thất thủ , quân triều đình nhanh chóng tan rã , nhưng ND HN vẫn anh dũng chiến đấu . ở các tỉnh khác, đi tới đâu , Pháp cũng bị quân dân ta chặn đánh quyết liệt + Nhân dân HN và các tỉnh đồng bằng BK chiến đấu kiên cường làm nên 2 lần chiến thắng Cầu Giấy . Trận cầu giấy lần thứ nhất vào ngày 21-12-1873, khi pháp đánh ra Cầu giấy , quân cờ đen Lưu Vĩnh Phúc và Hoàng Tá Viêm phục kích , tiêu diệt Gác-ni ê và nhiều sỹ quan , binh lính pháp. Chiến thắng cầu giấy làm cho quân địch hoang mang lo sợ, quân ta phấn khởi tin tưởng và quết tâm tiêu diệt địch đến cùng . -Năm 1882, Pháp đánh chiếm BK lần thứ 2, ND BK tiếp tục kC , nhân dân tự tay đốt nhà , tạo thành bức tường lửa chặn giặc , hàng nghìn người dân tụ tập thành đội ngũ , gươm giáo chỉnh tề tại đình quảng văn kéo vào thành đánh giặc , cuộc chiến đấu trong lòng địch diễn ra vô cùng quả cảm . Tại các địa pương ND đắp đập, cắm kè , làm hầm chông cạm bẫy chống Pháp . Đặc biệt quân cờ đen phối hợp với quân Hoàng Tá Viêm phục kích tại cầu giấy giết chết Ri vi e , làm nên chiến thắng Cầu Giấy lần thứ 2 vào ngày 19-5- 1883. 2 trận cầu giấy đã làm nức lòng ND cả nước , bồi đắp thêm ý chí quyết tâm tiêu diệt giặc của ND . -Khi triều đình ký hiệp ước Hác măng (1883) và Pa tơ nốt (1884), PTĐT của nhân dân ta tiếp tục diễn ra sôi nổi khắp cả nước với quyết tâm “đánh cả triều lẫn tây”. • Ý nghĩa chung : +Cuộc KC chống TDP XL của ND ta diễn ra sôi nổi , quyết liệt, thể hiện tinh thần yêu nước nòng nàn , chí căm thù giặc sâu sắc của ND ta . + Nhờ tinh thần của nhân dân, một số sỹ phu yêu nước trong phe chủ chiến đã kiên quyết, anh dũng chống Pháp, trở thành anh hùng của thời đại: Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Tôn Thất Thuyết . + Mặt trận nhân dân kháng chiến đã trở thành lực lượng hỗ trợ chủ yếu và làm nên chiến thắng ban đầu của quan quân triều đình Huế. + Cuộc chiến đấu của nhân dân ta khiến cho kẻ địch tạm thời chùn bước, kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược của địch, phải đến hơn 26 năm Pháp mới tạm thời ổn định tình hình trong nước Việt Nam. + Mặt trận nhân dân kháng chiến là cơ sở và là chỗ dựa đắc lực cho phe chủ chiến hành động trong tình hình mới (Lã Xuân Oai, Tạ Hiện, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật ), họ là lực lượng chủ lực trong phong trào Cần vương chống Pháp ở cuối thế kỷ XIX. + Để lại nhiều bài học kinh nghiệm quí báu, là cội nguồn nuôi dưỡng tinh thần bất khuất của ông cha ta, từ đó được nhân lên gấp bội trong sự nghiệp giải phóng dân tộc 5. b:: Trong cuộc kháng chiến chống TDP Xâm lược ( 1858-1884), đã nhiều lần triều đình bỏ lỡ cơ hội tiêu diệt địch . Em hãy phân tích tình hình quân
  5. Pháp trên chiến trường Gia Định năm 1859- 1862 và tình hình chiến trường sau trận cầu giấy 1873 để thấy được điều đó ? • TH trên Chiến trường Gia Định : Sau khi thất bại ở chiến trường ĐN , ngày 17-2- 1859, pháp kéo quân vào Gia định . Tháng 2-1859, Pháp đánh thành GĐ, quân triều đình chống cự yếu ớt rồi tan rã - Lúc này Pháp gặp khó khăn ở chiến trường TQ, nên phải rút quân , chỉ để lại ở GĐ 1000 quân dàn mỏng trên phòng tuyến dài hơn 10 Km , nhưng triều đình Huế không tổ chức huy động đánh đuổi quân Pháp ra khỏi nước ta mà chỉ lo phòng thủ ở đại đồn chí Hòa với tư thế “phòng thủ”. - Pháp bị sa lầy cả ĐN và GĐ rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Lúc này triều đình có sự phân hóa , tư tưởng chủ hòa lan ra làm lòng người ly tán - Khi quân pháp thắng lợi ở chiến trường Trung Quốc, chúng kéo về Gia Định , tiếp tục đánh chiếm , tháng 2-1861, pháp chiếm đại đồn Chí Hòa , thừa thắng chiếm 3 tỉnh định Tường , Biên Hòa , Vĩnh Long . - Ngay từ đầu nhân dân Nam Kỳ chiến đấu rất anh dũng , lập nhiều chiến công , ngày 10- 12-1861- NTT đã chỉ huy quân đánh chìm tàu Ét Pê răng ( HV) đậu trên sông vàm cỏ Đông , làm nức lòng ND ta . - Cuộc KC ngà y càng dâng cao . khiến Pháp vô cùng bối rối thì TĐH ký hiệp ước nhâm tuất ( 1862) với các điều khoản nặng nề , với hiệp ước này , chủ quyền dân tộc bị vi phạm , tạo điều kiện cho Pháp có cơ hội thực hiện dã tâm XL toàn bộ nước ta . • Tình hình sau trận cầu Giấy 1873: : Sau khi mất 6 tỉnh Nam kỳ, mà nhà Nguyễn vẫn không tỉnh ngộ trước âm mưu XL của TDP , vẫn tin vào thương thuyết nên để cho pháp ra Bắc Kỳ giải quyết vụ Đuy Puy, việc này đã tạo ĐK cho Pháp đánh chiếm BK +Năm 1873, Pháp đánh chiếm BK lần thứ nhất , bất chấp thái độ triều đình ND các tỉnh BK đã KC làm nên chiến thắng cầu Giấy lần thứ nhất 1873, giết chết Gac ni ê và làm cho pháp hoang mang lo sợ , nhà Nguyễn không nhân cơ hội này đánh Pháp mà còn ký với Pháp hiệp ước Giáp Tuất (1874), thừa nhận chủ quyền của Pháp ở 6 tỉnh Nam Kỳ , với hiệp ước này , VN đã mất 1 phần quan trọng ĐL chủ quyền lãnh thổ , ngoại giao, thương mại của VN. 5.c: Trình bày cuộc kháng chiến chống TDPXL của ND ta từ năm 1858- 1873 ? Nêu ý nghĩa của quá trình ĐT đó ? a. Chiến sự Đà Nẵng : + Chiều 31-8-1858 , liên quân Pháp – TBN dàn trận trước cửa biển Đà Nẵng - đây là vị trí chiến lược quan trọng , nếu chiếm được sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” +Sáng 1-9-1858, Liên quân Pháp – TBN đã nổ súng rồi đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà. Mở đầu cuộc XLVN . + Tiếng súng XL của quân Pháp tại ĐN đã làm giấy lên 1 làn sóng ĐT mạnh mẽ trong ND để bảo vệ tổ quốc .
  6. + Triều đình cử Nguyễn Tri Phương làm tổng chỉ huy mặt trận chống pháp tại ĐN, Ông huy động ND đắp lũy ngăn không cho giặc tiến sâu vào nội địa , NG được lệnh làm “vườn không nhà trống” gây cho Pháp nhiều khó khăn . +Đốc học Phạm văn Nghị đem 300 quân từ Nam Định vào Nam xin vua ra chiến trường chiến đấu . + Đội quân của Phạm Gia Vĩnh đã phối hợp chặt chẽ với quân triều đình chống giặc + Sau 5 tháng quân Pháp bị giam chân tại chổ , lực lượng hao mòn dần , chúng chỉ chiếm được bán đảo Sơn trà . + Cuộc KC của ta bước đầu làm thất bại âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp . b. Chiến sự Gia Định và các tỉnh Nam Kỳ ( 6 tỉnh): +Tháng 2-1859, P kéo quân vào Gia Định , ngày 17- 2- 1859 , P đánh thành Gia Định. + khi pháp đánh vào Gia dịnh, PT KC của ND ta vô cùng sôi nổi , các đội nghĩa binh ngày đêm bám sát, tìm cách bao vây tiêu diệt địch , NTP làm tổng chỉ huy ở MT GĐ . -Nghĩa quân NTT đánh chìm tàu Ét Pê răng ( hy vọng ) trên sông vàm Cỏ Đông vào ngày 10- 12-1861, làm nức lòng ND ta. -Sau khi triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước Nhâm Tuất (1862), bất chấp lệnh bãi binh của triều đình , bất chấp lệnh bãi binh của triều đình , PT chống pháp vẫn tiếp tục dâng cao , tiêu biểu là cuộc KN do Trương Định lãnh đạo đánh cho địch thất điên bát đảo. Ngọn cờ “bình tây đại nguyên soái” của Trương Định đã mang đến cho ND Nam Kỳ niềm tin tưởng đồng thời khiến bè lũ cướp nước và bán nước phải khiếp sợ . -PT “Tị địa”- bất hợp tác với giặc diễn ra rất sôi nổi ,các đội nghĩa quân vẫn không chịu hạ vũ khí mà hoạt động ngày càng mạnh mẽ . -Sau khi TDP chiếm được 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ và 3 tỉnh miền tây nam kỳ , mặc cho triều đình ra sức ngăn cản , nhưng cuộc KC của ND ta càng diễn ra sôi nổi , mạnh mẽ , nhiều trung tâm KC được lập ra như Đồng Tháp mười, Tây Ninh, Bến Tre, Vĩnh Long, Hà Tiên .nhiều người thà chết chứ không chịu hợp tác với giặc . -Một số nhà nho yêu nước tìm đường ra bình thuận ( Nam trung kỳ ) lập ra đồng châu Xã do nguyễn Thông đứng đầu để giúp đỡ nhau và XD căn cứ ở tánh linh nhằm mưu cuộc KC lâu dài .Một số khác kiên trì bám đất , bám dân , tiến hành cuộc ĐT vũ trang quyết liệt với kẻ thù -2 anh em Pha Tôn, Phan Liêm chỉ huy nghĩa quân hoạt động ở Bến Tre, Vĩnh Long , Sa đéc trong 2 năm (1867- 1868) -Nguyễn Hữu Huân 2 lần bị giặc bắt được thả ra ông tiếp tục kháng chiến . -Nghĩa quân NTT đánh chiếm và làm chủ Rạch giá ( 6-1867); -KN của Trương Quyền ở Tây Ninh đã phối hợp với người khơ me , người thượng XD cở chống Pháp . -ĐT của các nho sỹ : Nhiều người dùng văn thơ làm vũ khí chống Pháp như Nguyễn Đình Chiểu , Phan Văn Trị . *TDP đánh chiếm Bắc Kỳ lần 1: +Ngày 20-11- 1873, quân pháp nổ sáng đánh thành Hà nội . Tại cửa ô Thanh Hà , dưới sự chỉ huy của viên chưởng cơ , khoảng 100 binh lính triều đình đã chiến đấu và hy sinh đến người cuối cung . +Tổng đốc Nguyễn Tri Phương và con trai là nguyễn Lâm đã anh dũng hy sinh để bảo vệ thành Hà Nội trong lần Pháp đánh BK lần thứ nhất + Thành HN thất thủ , quân triều đình nhanh chóng tan rã , nhưng ND HN vẫn anh dũng chiến đấu . ở các tỉnh khác, đi tới đâu , Pháp cũng bị quân dân ta chặn đánh quyết liệt
  7. + Nhân dân HN và các tỉnh đồng bằng BK chiến đấu kiên cường làm nên chiến thắng Cầu Giấy , ngày 21-12-1873, khi pháp đánh ra Cầu giấy , quân cờ đen Lưu Vĩnh Phúc và Hoàng Tá Viêm phục kích , tiêu diệt Gác-ni ê và nhiều sỹ quan , binh lính pháp. Chiến thắng cầu giấy làm cho quân địch hoang mang lo sợ, quân ta phấn khởi tin tưởng và quết tâm tiêu diệt địch đến cùng . • Ý nghĩa: +Cuộc KC chống TDP XL của ND ta diễn ra sôi nổi , quyết liệt, thể hiện tinh thần yêu nước nòng nàn +Bất chấp thái độ của triều đình nhà Nguyễn ND đã chiến đấu kịp thời , chiến đấu mưu trí dũng cảm , sáng tạo với nhiều hình thức phong phú + Tuy chưa có được thắng lợi cuối cùng nhưng đã khẳng định ý chí quyết tâm đánh pháp giành ĐLDT, quyết không chịu làm nô lệ của ND ta + Cuộc chiến đấu của ND ta khiến cho kẻ địch tạm thời chùn bước , kéo dài cuộc chiến tranh XL của của địch phải đến hơn 26 năm pháp mới tạm thời ổn định tình hình trong nước VN + Để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu , là cội nguồn nuôi dưỡng tinh thần bất khuất của ông cha ta , từ đó được nhân lên gấp bội trong sự nghiệp GPDT. 5.d: So sánh trận cầu giấy làn thứ nhất ( 1873) và trận cầu giấy lần thứ 2 ( 1883) – Tự học 5. e: Quá trình TDP XL tại các mặt trận : Đà nẵng , Gia Định và các tỉnh Nam kỳ ; Bắc kỳ lần 1 và BK lần 2 : Đọc SGK 6. Bằng những sự kiên LS của PT KC chống Pháp của ND ta từ năm 1858 đến cuối TK XIX, em hãy chứ ng minh câu nói của Nguyễn trung Trực “bao giờ .” a. * NTT nói câu đó trong hoàn cảnh : +Sau khi 3 tỉnh miền tây bị mất , triều đình cử NTTra làm lãnh binh và ra lệnh cho ông về phú Yên nhưng ông từ chối ở lại chống pháp , lập căn cứ hòn chông. Ngày 16-6-1867, từ hòn chông ông đã dẫn quân vượt biển , đổ bộ tiêu diệt địch chớp nhoáng đồn kiên Giang , làm chủ tỉnh lị rach Giá 6 ngày . Tháng 9- 1868 , ông bị bắt ở pháu Quốc , TDP dụ dỗ, tra tấn ông đầu hàng nhưng không được . Tháng 10- 1868, TDP đưa NTTra xử tử ở Rạch Giá , trong giời phút đó , Ông đã khảng khái tuyên bố “bao giờ ..” b. Ý nghĩa câu nói : Câu nói của NTT có 1 YN hết sức to lớn , thể hiện tinh thần ĐT anh dũng kiên cường chống quân XL của ND ta , thà hy sinh chứ nhất định không chịu làm nô lệ , không chịu làm tay sai cho giặc . Tinh thần đó đã khơi dậy niềm tin về tình yêu đất nước , tiếp thêm sức mạnh cho đồng bào cả nước đánh giặc cứu nước . c. Chứng minh câu nói : + Trước khi chết NTT đã khẳng định tinh thần quyết tâm đánh pháp đến cùng của ND ta . Thực tế LS truyền thống yêu nước của ND ta đã chứng minh đúng như thế . *Tại MT ĐN : + Tiếng súng XL của quân Pháp tại ĐN đã làm giấy lên 1 làn sóng ĐT mạnh mẽ trong ND để bảo vệ tổ quốc . + Triều đình cử Nguyễn Tri Phương làm tổng chỉ huy mặt trận chống pháp tại ĐN, Ông huy động ND đắp lũy ngăn không cho giặc tiến sâu vào nội địa , NG được lệnh làm “vườn không nhà trống” gây cho Pháp nhiều khó khăn .
  8. +Đốc học Phạm văn Nghị đem 300 quân từ Nam Định vào Nam xin vua ra chiến trường chiến đấu . + Đội quân của Phạm Gia Vĩnh đã phối hợp chặt chẽ với quân triều đình chống giặc + Sau 5 tháng quân Pháp bị giam chân tại chổ , lực lượng hao mòn dần , chúng chỉ chiếm được bán đảo Sơn trà . + Cuộc KC của ta bước đầu làm thất bại âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp . *Tại MT Gia Định và các tỉnh Nam Kỳ( 6 tỉnh ) : +Tháng 2. 1859, khi pháp đánh vào Gia dịnh, PT KC của ND ta vô cùng sôi nổi , các đội nghĩa binh ngày đêm bám sát, tìm cách bao vây tiêu diệt địch , NTP làm tổng chỉ huy ở MT GĐ . -Nghĩa quân NTT đánh chìm tàu Ét Pê răng ( hy vọng ) trên sông vàm Cỏ Đông vào ngày 10- 12-1861, làm nức lòng ND ta. - Sau khi triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước Nhâm Tuất (1862), bất chấp lệnh bãi binh của triều đình , bất chấp lệnh bãi binh của triều đình , PT chống pháp vẫn tiếp tục dâng cao , tiêu biểu là cuộc KN do Trương Định lãnh đạo đánh cho địch thất điên bát đảo. -PT “Tị địa”diễn ra rất sôi nổi ,các đội nghĩa quân vẫn không chịu hạ vũ khí mà hoạt động ngày càng mạnh mẽ . -Sau khi TDP chiếm được 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ và 3 tỉnh miền tây nam kỳ , mặc cho triều đình ra sức ngăn cản , nhưng cuộc KC của ND ta càng diễn ra sôi nổi , mạnh mẽ , nhiều trung tâm KC được lập ra như Đồng Tháp mười, Tây Ninh, Bến Tre, Vĩnh Long, Hà Tiên .nhiều người thà chết chứ không chịu hợp tác với giặc . -Một số nhà nho yêu nước tìm đường ra bình thuận ( Nam trung kỳ )lập ra đồng châu Xã do nguyễn Thông đứng đầu để giúp đỡ nhau và XD căn cứ ở tánh linh nhằm mưu cuộc KC lâu dài .Một số khác kiên trì bám đất , bám dân , tiến hành cuộc ĐT vũ trang quyết liệt với kẻ thù . -2 anh em Pha Tôn, Phan Liêm chỉ huy nghĩa quân hoạt động ở Bến Tre, Vĩnh Long , Sa đéc trong 2 năm 1867- 1868 -Nguyễn Hữu Huân 2 lần bị giặc bắt được thả ra ông tiếp tục kháng chiến . -Nghĩa quân NTT đánh chiếm và làm chủ Rạch giá ( 6-1867); KN của Trương Quyền ở Tây Ninh đã phối hợp với người khơ me , người thượng XD cở chống Pháp . -ĐT của các nho sỹ : Nhiều người dùng văn thơ làm vũ khí chống Pháp như Nguyễn Đình Chiểu , Phan Văn Trị . *Tại MT bắc Kỳ ( BK lần 1 và BK lần 2): +Ngày 20-11- 1873, quân pháp nổ sáng đánh thành Hà nội . Tại cửa ô Thanh Hà , dưới sự chỉ huy của viên chưởng cơ , khoảng 100 binh lính triều đình đã chiến đấu và hy sinh đến người cuối cung . +Tổng đốc Nguyễn Tri Phương và con trai là nguyễn Lâm đã anh dũng hy sinh để bảo vệ thành Hà Nội trong lần Pháp đánh BK lần thứ nhất + Thành HN thất thủ , quân triều đình nhanh chóng tan rã , nhưng ND HN vẫn anh dũng chiến đấu . ở các tỉnh khác, đi tới đâu , Pháp cũng bị quân dân ta chặn đánh quyết liệt + Nhân dân HN và các tỉnh đồng bằng BK chiến đấu kiên cường làm nên 2 lần chiến thắng Cầu Giấy . Trận cầu giấy lần thứ nhất vào ngày 21-12-1873, khi pháp đánh ra Cầu giấy , quân cờ đen Lưu Vĩnh Phúc và Hoàng Tá Viêm phục kích , tiêu diệt Gác-ni ê và nhiều sỹ quan , binh lính pháp, Chiến thắng cầu giấy làm cho quân địch hoang mang lo sợ, quân ta phấn khởi tin tưởng và quết tâm tiêu diệt địch đến cùng .
  9. + Năm 1882, Pháp đánh chiếm BK lần thứ 2, ND BK tiếp tục kC , nhân dân tự tay đốt nhà , tạo thành bức tường lửa chặn giặc , hàng nghìn người dân tụ tập thành đội ngũ , gươm giáo chỉnh tề tại đình quảng văn kéo vào thành đánh giặc , cuộc chiến đấu trong lòng địch diễn ra vô cùng quả cảm . Tại các địa pương ND đắp đập, cắm kè , làm hầm chông cạm bẫy chống Pháp . Đặc biệt quân cờ đen phối hợp với quân Hoàng Tá Viêm phục kích tại cầu giấy giết chết Ri vi e , làm nên chiến thắng Cầu Giấy lần thứ 2 vào ngày 19-5- 1883. 2 trận cầu giấy đã làm nức lòng ND cả nước , bồi đắp thêm ý chí quyết tâm tiêu diệt giặc của ND . + Khi triều đình ký hiệp ước Hác măng (1883) và Pa tơ nốt (1884), PTĐT của nhân dân ta tiếp tục diễn ra sôi nổi khắp cả nước với quyết tâm “đánh cả triều lẫn tây”. • Từ năm 1885 đến cuối TK XIX: bao gồm PT CV, khởi nghĩa Yên Thế và phong trào chống Pháp của đồng bào miền núi và các dân tộc thiểu số . + PT CV (1885-1896): Là PT yêu nước dưới ngọn cờ CV do các văn thân sỹ phu yêu nước lãnh đạo , PT diễn ra rầm rộ khắp cả nước , tiêu biểu ở BK và TK - Các cuộc KN giai đoạn này là KN Ba Đình ( 1886-1887) do Phạm Bành , Đinh Công Tráng lãnh đạo KN Ba Đình như 1 cứ điểm vững chắc và tượng trưng cho ý chí quật khởi của DT ta - KN Bãi Sậy ( 1883-1892) do Thiện Thuật lãnh đạo , đây là cuộc KN điển hình của chiến thuật chiến tranh du kích - KN Hùng Lĩnh (1887-1892 do Tống Duy Tân , Cầm Bá Thước lãnh đạo ) - Tiêu biểu là KN Hương khê ( 1885-1896) do PĐP và Cao Thắng lãnh đạo , cuộc KN kéo dài hơn 10 năm + Khởi nghĩa nông dân Yên Thế: (1884- 1913): Do Đề Nắm và Hoàng Hoa Thám lãnh đạo , cuộc KN kéo dài gần 30 năm . KNYT là 1 PTĐT tự vệ chống Pháp lớn nhất của nông dân trong những năm cuối TK XIX đầu TK XIX , có tác dụng làm chậm QTXL bình định vùng trung du và miền núi phía bắc của TDP +PT ĐT của đồng bào miền núi và các DT thiểu số cũng diễn ra sôi nổi và quyết liệt KL:PTKC của ND ta từ 1885 đến cuối TK XIX, thể hienj tinh thần yêu nuwosc nòng nàn , ý chí chiến đấu kiên cường bất khuất của nhân dân ta , để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho giai đoạn sau. 7 : Nguyên nhân khiến cho cuộc KC chống Pháp xâm lược của N. dân ta từ 1858- 1884 thất bại : 6 ý • TDP có lực lượng quân sự mạnh hơn ta , lại quyết tâm XL nước ta làm thuộc địa . • Triều đình nhà Nguyễn không có khả năng ý muốn tập hợp , đoàn kết , tổ chức, lãnh đạo Nd để chống Pháp như các triều đại trước . Ngược lại , còn ngăn cản ND tiếp tục chống ngoại xâm . • Vua quan triều Nguyễn bảo thủ , không tiếp nhận được cái mới , tiến bộ để cải cách , duy tân đất nước dẫn đến nước ta không có tiềm lực KT vững vàng , không có ĐK vật chất để đủ sức chống xâm lược . • Triều đình nhà Nguyễn không có tinh thần chiến đấu mà do dự , đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác, bỏ qua nhiều cơ hội để phản công Pháp . • Cuộc KC chống Pháp của ND ta trong ĐK lúc bấy giờ thiếu sự lãnh đạo chung, chưa có đường lối đúng đắn , giai cấp tiên tiến lãnh đạo . Cuộc KC chống Pháp của ND ta diễn ra rời rạc , phân tán .không tạo nên sức mạnh lớn dễ bị TDP đánh bại • Tuy nhiên thất bại trong cuộc KC chống Pháp của ND ta chỉ là tạm thời . PT chống Pháp được duy trì , phát triển , tạo ĐK để gianh thắng lợi khi có tổ chức và sự lãnh đạo đúng đắn 8 : Phân tích thái độ của triều đình và của ND ta trước sự XL của TDP 1858-1884
  10. • Bước 1: Nêu nguyên nhân TDPXL • Bước 2: Trình bày thái độ của triều đình và của ND ta +Ngày 1-9-1858, Pháp nổ súng tấn công ĐN , mở đầu XL nước ta . Quân dân ta anh dũng chóng trả , triều đình cử NTP ra chặn giặc lập phòng tuyến Hoà Vang. + Trong lúc nhân dân Quảng nam phối hợp với triều đình , Đốc học Phạm văn Nghị đem 300 quân từ Nam Định vào Nam xin vua ra chiến trường chiến đấu . Đội quân của Phạm Gia Vĩnh đã phối hợp chặt chẽ với quân triều đình chống giặc . Bị sa lầy ở Đà Nẵng , quân Pháp – tây Ban nha quân pháp buộc phải thay đổi kế hoạch kéo vào Gia Định + Từ năm 1859- 1862: Năm 1859 pháp chuyển hướng tấn công vào Gia Định , quân triều đình tan rã nhanh chóng .tuy nhiên , ngay sau đó giặc Pháp vấp phải những khó khăn mới , các đội nghĩa quân ngày đêm bám sát , tìm cách bao vây tiêu diệt địch , quân pháp rút xuống các tàu chiến -Năm 1860 , P phải chia sẽ lực lượng với các chiến trường , chỉ để lại Gia Định khoảng 1000 quân rải trên 1 chiến tuyến dài 10 km , quân triều đình vẫn đóng trong đại đồn chí hòa với tư thế thủ hiểm , tháng 2-1861, pháp tấn công đại đồn chí hòa , đại đồn chí hòa rơi vào tay giặc , sau đó Pháp chiếm luôn 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ , triều đình ký hiệp ước Nhâm tuất với những điều khoản nặng nề -Nếu triều đình có thái độ bị động đối phó thì nhân dân ta có thái độ chủ động , tiêu biểu là nghĩa quân NTT đánh chìm tàu Ét Pê răng ( hy vọng ) trên sông vàm cỏ đông ; nghia quân của Trương Định đánh cho địch thất điên bát đảo + Từ năm 1867 đến trước năm 1873 -Sau hiệp ước Nhâm tuất , triều đình không tích cực kháng chiến giành lại vùng đất đã mất , tiếp tục thực hiện chính sách đối nội, đối ngoại thiển cận , quân P đã chiếm gọn 3 tỉnh miền tây . -ND 6 tỉnh Nam Kỳ nêu cao tinh thần quyết tâm chống Pháp . ND chủ động thành lập các đơn vị vũ trang , hình thành trung tâm kháng chiến chống Pháp như Đồng Tháp Mười , Tây Ninh, Bến Tre , Hà Tiên, .. tiêu biểu là KN của Trương Quyền ở Tây Ninh ; . Nhiều người thà chết chứ không chịu hợp tác với giặc , các toán nghĩa quân của trương Định, Lê huy chiến đấu rất anh dũng , lập nhiều chiến công ; ND sử dụng nhiều biện pháp ĐT hiệu quả như dùng văn thơ làm vũ khí chống Pháp như Nguyễn Đình Chiểu , Phan Văn Trị; 2 anh em Phan Tôn , Phan Liêm chỉ huy quân hoạt động ở bến tre , Vĩnh Long , Sa Đéc . Nghĩa quân NTT đã đánh chiếm và làm chủ Rạch Giá , khi bị giặc đưa ra xử chém , Ông đã khảng khái nói : “Bao giờ ..đánh tây ” + Năm 1873- 1874: TDP đánh BK lần thứ nhất -Triều đình thương thuyết với pháp , ký hiệp ước Giáp tuất ( 1874) , cắt 6 tỉnh cho Pháp . Đánh dấu 1 bước mới trong quá trình đầu hàng của triều đình nhà nguyễn - Quân dân ta đã chống trả quyết liệt khi pháp nổ súng đánh thành HN -Tổng đốc Nguyễn Tri Phương và con trai là nguyễn Lâm đã anh dũng hy sinh để bảo vệ thành Hà Nội - Nhân dân HN và các tỉnh đồng bằng BK chiến đấu kiên cường làm nên chiến thắng Cầu Giấy năm 1873 + Từ năm 1882- 1883: TDP đánh BK lần 2 và Trung kỳ - Năm 1882, Pháp đánh chiếm BK lần thứ 2, ND BK tiếp tục kC , nhân dân tự tay đốt nhà , tạo thành bức tường lửa chặn giặc , hàng nghìn người dân tụ tập thành đội ngũ , gươm giáo chỉnh tề tại đình quảng văn kéo vào thành đánh giặc , cuộc chiến đấu trong lòng địch diễn ra vô cùng quả cảm . Tại các địa pương ND đắp đập, cắm kè , làm hầm chông cạm bẫy chống Pháp
  11. . Đặc biệt quân cờ đen phối hợp với quân Hoàng Tá Viêm phục kích tại cầu giấy giết chết Ri vi e , làm nên chiến thắng Cầu Giấy lần thứ 2 vào ngày 19-5- 1883. Chiến thắng cầu giấy thể hiên rõ quyết tâm tiêu diệt giặc của nhân dân ta . +KL: Như vây, thái độ của triều đình nhà Nguyễn và ND ta có sự khác nhau : Nhà nguyễn không kiên quyết chống giặc vì quyền lợi của dòng họ nên từng bước nhân nhượng và đầu hàng pháp . ND ta không chịu khuất phục , kiên quyết chống giặc ngay từ đầu , cuộc chiến đấu của ND ta diễn ra liên tục rộng khắp và quyết liệt . 9 . Vai trò của quần chúng ND trong cuộc ĐT làm chậm quá trình XL của TDP trong giai đoạn 1858-1884. Hiện nay vai trò ND được phát huy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc như thế nào • Bước 1: Nêu Nguyên nhân Pháp XL • Bước 2: Trình bày vai trò của ND trong các mặt trận chống Pháp a. Tại MT Đà Nẵng : ND chủ động phối hợp với quan quân triều đình chống Pháp làm thất bại kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp +Đốc học Phạm văn Nghị đem 300 quân từ Nam Định vào Nam xin vua ra chiến trường chiến đấu . + Đội quân của Phạm Gia Vĩnh đã phối hợp chặt chẽ với quân triều đình chống giặc b. Tại Gia định và các các tỉnh Nam Kỳ ( 6 tỉnh ): +Tháng 2. 1859, khi pháp đánh vào Gia dịnh, PT KC của ND ta vô cùng sôi nổi , các đội nghĩa binh ngày đêm bám sát, tìm cách bao vây tiêu diệt địch , NTP làm tổng chỉ huy ở MT GĐ . -Nghĩa quân NTT đánh chìm tàu Ét Pê răng ( hy vọng ) trên sông vàm Cỏ Đông vào ngày 10- 12-1861, làm nức lòng ND ta. - Sau khi triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước Nhâm Tuất (1862), bất chấp lệnh bãi binh của triều đình , bất chấp lệnh bãi binh của triều đình , PT chống pháp vẫn tiếp tục dâng cao , tiêu biểu là cuộc KN do Trương Định lãnh đạo đánh cho địch thất điên bát đảo. -PT “Tị địa”- bất hợp tác với giặc diễn ra rất sôi nổi ,các đội nghĩa quân vẫn không chịu hạ vũ khí mà hoạt động ngày càng mạnh mẽ . - Sau khi TDp chiếm được 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ và 3 tỉnh miền tây nam kỳ , mặc cho triều đình ra sức ngăn cản , nhưng cuộc KC của ND ta càng diễn ra sôi nổi , mạnh mẽ , nhiều trung tâm KC được lập ra như Đồng Tháp mười, Tây Ninh, Bến Tre, Vĩnh Long, Hà Tiên .nhiều người thà chết chứ không chịu hợp tác với giặc . -Một số nhà nho yêu nước tìm đường ra bình thuận ( Nam trung kỳ )lập ra đồng châu Xã do nguyễn Thông đứng đầu để giúp đỡ nhau và XD căn cứ ở tách linh nhằm mưu cuộc KC lâu dài .Một số khác kiên trì bám đất , bám dân , tiến hành cuộc ĐT vũ trang quyết liệt với kẻ thù -2 anh em Pha Tôn, Phan Liêm chỉ huy nghĩa quân hoạt động ở Bến Tre, Vĩnh Long , Sa đéc trong 2 năm 1867- 1868 -Nguyễn Hữu Huân 2 lần bị giặc bắt được thả ra ông tiếp tục kháng chiến . -Nghĩa quân NTT đánh chiếm và làm chủ Rạch giá ( 6-1867); KN của Trương Quyền ở Tây Ninh đã phối hợp với người khơ me , người thượng XD cơ sở chống Pháp . -ĐT của các nho sỹ : Nhiều người dùng văn thơ làm vũ khí chống Pháp như Nguyễn Đình Chiểu , Phan Văn Trị . c. Tại mặt trận Bắc Kỳ ( BK lần 1 và BK lần 2): +ND chiến đấu khi pháp kéo đến các địa phương . Tại cửa ô Thanh Hà , dưới sự chỉ huy của viên chưởng cơ , khoảng 100 binh lính triều đình đã chiến đấu và hy sinh đến người cuối cung .
  12. +Tổng đốc Nguyễn Tri Phương và con trai là nguyễn Lâm đã anh dũng hy sinh để bảo vệ thành Hà Nội trong lần Pháp đánh BK lần thứ nhất + Thành HN thất thủ , quân triều đình nhanh chóng tan rã , nhưng ND HN vẫn anh dũng chiến đấu . ở các tỉnh khác, đi tới đâu , Pháp cũng bị quân dân ta chặn đánh quyết liệt + Nhân dân HN và các tỉnh đồng bằng BK chiến đấu kiên cường làm nên 2 lần chiến thắng Cầu Giấy . Trận cầu giấy lần thứ nhất vào ngày 21-12-1873, khi pháp đánh ra Cầu giấy , quân cờ đen Lưu Vĩnh Phúc và Hoàng Tá Viêm phục kích , tiêu diệt Gác-ni ê và nhiều sỹ quan , binh lính pháp, Chiến thắng cầu giấy làm cho quân địch hoang mang lo sợ, quân ta phấn khởi tin tưởng và quết tâm tiêu diệt địch đến cùng . + Năm 1882, Pháp đánh chiếm BK lần thứ 2, ND BK tiếp tục kC , nhân dân tự tay đốt nhà , tạo thành bức tường lửa chặn giặc , hàng nghìn người dân tụ tập thành đội ngũ , gươm giáo chỉnh tề tại đình quảng văn kéo vào thành đánh giặc , cuộc chiến đấu trong lòng địch diễn ra vô cùng quả cảm . Tại các địa pương ND đắp đập, cắm kè , làm hầm chông cạm bẫy chống Pháp . Đặc biệt quân cờ đen phối hợp với quân Hoàng Tá Viêm phục kích tại cầu giấy giết chết Ri vi e , làm nên chiến thắng Cầu Giấy lần thứ 2 vào ngày 19-5- 1883. Chiến thắng cầu giấy lần 2 thể hiên rõ quyết tâm tiêu diệt giặc của nhân dân ta , làm nức lòng ND cả nước , bồi đắp thêm ý chí quyết tâm tiêu diệt giặc của ND . KL: Như vây, có thể nói trong cuộc KC chống Pháp từ năm 1858- 1884, nhân dân ta đã chiến đấu kip thời , có ý thức bảo vệ nền độc lập của dân tộc, khi Tổ quốc lâm nguy, họ đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, họ chiến đấu với tất cả sức lực, mưu trí, sáng tạo của mình, với mọi vũ khí có trong tay, đặc biệt là với lòng quyết tâm cao nhất (Văn tế nghĩa sỹ Cần Guộc). Không chỉ đánh giặc trên chiến trường, bằng vũ lực mà còn thông qua thơ văn để ca ngợi những người anh hùng , chứa chan tình yêu quê hương, đất nước, vạch mặt kẻ thù (Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông ), cho dù triều đình Huế chủ trương cắt đất cầu hòa , hèn nhát , ký với Pháp các bản hiệp ước đầu hàng pháp từng bước nhưng ND ta vẫn kiên quyết gương cao ngọn cờ chống Pháp , gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề . + Cuộc chiến đấu của nhân dân ta khiến cho kẻ địch tạm thời chùn bước, kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược của địch, phải đến hơn 26 năm Pháp mới tạm thời ổn định tình hình trong nước Việt Nam. • Bước 3: trình bày vế mở ( liên hệ thực tế ) – hướng dẫn sau để thi tỉnh 10 : Phân tích đặc điểm ( Nhân xét chung ) phong trào chống Pháp xâm lược (1858 – 1884)? Giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp nổ sung xâm lược nước ta. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam nổ ra ngay từ đầu. Từ chỗ liên minh với triều đình kháng chiến, nhân dân đã tách ra thành một mặt trận riêng, gọi là mặt trận nhân dân kháng Pháp. 1. Chiến đấu kịp thời: chiến đấu ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân lên bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) đến khi nhà Nguyễn bị khuất phục hoàn toàn. Nhân dân ta có ý thức bảo vệ nền độc lập của dân tộc rất cao, không trông chờ vào bất kỳ một mệnh lệnh, một lời kêu gọi nào của triều đình ban ra. Họ chống Pháp vì lẽ thường tình: có nước thì phải giữ lấy nước , có người có ta, còn nước còn tát, đọc chiếu Bình Ngô, “noi gương Sát thát” .Ý thức thường trực đó xuất phát từ truyền thống yêu nước của dân tộc. 2. Xác định đúng kẻ thù dân tộc: nhân dân tự xác định đâu là bạn, đâu là thù, khi Tổ quốc lâm nguy, họ đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết. Nhân dân ta đã tạm gác mối thù giai cấp để đứng dưới ngọn cờ của triều đình chống Pháp, đặt mối thù dân tộc lên trên tất cả. Họ kháng chiến với ý thức về một Tổ quốc thống nhất rất cao, sẵn sàng quên đi việc chia cắt đất nước,
  13. tạm quên mối thù của nhân dân với triều đình Nguyễn (Phạm Văn Nghị dẫn hơn 300 người, chủ yếu là học trò và nông dân vào tận Phú Xuân để xin đánh giặc ). 3. Tinh thần chiến đấu dũng cảm: Nhân dân ta kháng chiến không đòi hỏi bất cứ cứ điều kiện gì, không đợi triều đình ban chức tước, ban thưởng, mà họ chiến đấu vì nghĩa lớn: bảo vệ cuộc sống bình yên, bảo vệ quê hương đất nước (“Chạy giặc” – Nguyễn Đình Chiểu), chiến đấu với tất cả sức lực, mưu trí, sang tạo của mình, với mọi vũ khí có trong tay, đặc biệt là với lòng quyết tâm cao nhất (Văn tế nghĩa sỹ Cần Guộc). Không chỉ đánh giặc trên chiến trường, bằng vũ lực mà còn thông qua thơ văn để ca ngợi những người anh hung, chứa chan tình yêu quê hương, đất nước, vạch mặt kẻ thù (Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông ). 4. Chiến đấu mưu trí, sang tạo với nhiều hình thức phong phú: du kích, tập kích, phục kích, phát huy truyền thống thủy chiến, pháo thuyền Những tấm gương Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân khi bị giải ra pháp trường vẫn ung dung làm thơ, thể hiện ý chí bất khuất của mình. + Khi triều đình Huế cam tâm phản bội lại quyền lợi dân tộc, cắt đất cầu hòa, nhân dân ta nhanh chóng bước đầu kết hợp nhiệm vụ chống xâm lược với chống bọn phong kiến đầu hang. Nhân dân ở các tỉnh miền Đông Nam Kỳ tin tưởng theo ngọn cờ “Bình Tây Đại nguyên soái”, làm cho bè lũ cướp nước và bán nước phải khiếp sợ. Năm 1873, thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất, triều đình Nguyễn ký Hiệp ước Giáp Tuất (1874), khởi nghĩa của Trần Tấn, Đặng Như Mai giương cao hơn nữa ngọn cờ chống triều đình phong kiến đầu hang: “Dập dìu trống đánh cờ xiêu, Phen này quyết đánh cả triều lẫn Tây” Cũng từ đây, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân tách thành mặt trận riêng, không hề lệ thuộc vào triều đình, giặc đi tới đâu bị nhân dân kháng cự tới đó. - Ý nghĩa: 5 ý +Cuộc KC chống TDP XL của ND ta diễn ra sôi nổi , quyết liệt, thể hiện tinh thần yêu nước nòng nàn + Nhờ tinh thần của nhân dân, một số sỹ phu yêu nước trong phe chủ chiến đã kiên quyết, anh dũng chống Pháp, trở thành anh hùng của thời đại: Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Tôn Thất Thuyết . + Mặt trận nhân dân kháng chiến đã trở thành lực lượng hỗ trợ chủ yếu và làm nên chiến thắng ban đầu của quan quân triều đình Huế. + Cuộc chiến đấu của nhân dân ta khiến cho kẻ địch tạm thời chùn bước, kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược của địch, phải đến hơn 26 năm Pháp mới tạm thời ổn định tình hình trong nước Việt Nam. + Mặt trận nhân dân kháng chiến là cơ sở và là chỗ dựa đắc lực cho phe chủ chiến hành động trong tình hình mới (Lã Xuân Oai, Tạ Hiện, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật ), họ là lực lượng chủ lực trong phong trào Cần vương chống Pháp ở cuối thế kỷ XIX. + Để lại nhiều bài học kinh nghiệm quí báu, là cội nguồn nuôi dưỡng tinh thần bất khuất của ông cha ta, từ đó được nhân lên gấp bội trong sự nghiệp giải phóng dân tộc 11 : Đánh giá trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để nước ta rơi vào tay Pháp . Rút ra bài học cho công cuộc XD và bảo vệ tổ quốc hiện nay . • Bước 1: Trình bày trách nhiệm của nhà Nguyễn
  14. Mở : Có thể nói từ năm 1858- 1884 là quá trình triều định huế đi từ đầu hàng từng bước đến đầu hàng toàn bộ trước quân XL và để nước ta rơi vào tay Pháp , đó là 1 phần trách nhiệm của nhà Nguyễn . + Trước họa xâm lăng , nhà Nguyễn vẫn khư khư chính sách bảo thủ , thậm chí phản động , không thực hiện cải cách Duy Tân , từ chối cả những đề nghị của những người có tâm huyết với đất nước , ngược lại triều đình nhà Nguyễn còn thi hành chính sách bảo thủ về mọi mặt , kìm hãm sự phát triển kinh tế , chính trị , xã hội nên khi Pháp XL nước ta không có tiềm lực KT vững vàng , điều kiện vật chất để có thể đương đầu với quân Pháp .Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến nước ta rơi vào tay Pháp. +Triều đình nhà Nguyễn từ chổ do dự , tính toán , chống cự yếu ớt đến lần lượt ký các hiệp ước ước đầu hàng thực dân Pháp : Hiệp ước Nhâm Tuất 5-6-1862; Hiệp ước giáp tuất 15-3-1774; Hiệp ước Hác măng 25-8-1883; Hiệp ước Pa Tơ nốt 6-6-1884, thì triều đình nhà Nguyễn chấp nhận sự thống trị của Pháp +VN mất chủ quyền dân tộc vì sự nhu nhược của triều Nguyễn , vì triều Nguyễn “sợ dân hơn sợ giặc” nên đã cắt xén đất đai làm tay sai cho Pháp . Đó là sự phản bội trắng trợn của triều đình đối với nhân dân . + Đối với pháp : Ngay từ đầu , 1 số quan lại triều đình đã có tư tưởng sợ Pháp , có ảo tưởng thông qua việc thương thuyết để giữ nền ĐL + Đối với ND: Triều đình vẫn giữ thái độ thù địch , không dám dựa vào ND, không phát động được cuộc kháng chiến của nhân dân . Nhà Nguyễn không biết chớp lấy cơ hội tốt đẻ phản công đặc biệt khi Pháp đánh ĐN , sau đó đánh Gia định chúng gặp nhiều khó khăn nhưng nhà Nguyễn không tận dụng cơ hội phát động cơ hội toàn dân tiêu diệt giặc ; năm 1873 và năm 1883 khi Pháp thua đau ở trận cầu Giấy lần 1 và trận cầu Giấy lần 2 , nhưng triều đình nhà Nguyễn không tỉnh ngộ mà thực hiện đường lối chính trị bạc nhược , chính sách quân sự bảo thủ +Triều đình không có đường lối , phương pháp KC đúng đắn , không có nghệ thuật quân sự độc đáo, sáng tạo , từ bỏ con đường ĐT vũ trang đi theo con đường thương lượng , sử dụng đường lối ĐT thủ hòa, bị động + Như vậy, triều đình Huế vừa sợ Pháp vừa sợ dân . Sợ dân nên triều đình chống lại nhân dân , bỏ rơi cuộc chiến đấu của nhân dân , thậm chí ngăn cản nhân dân chống Pháp . Sợ pháp , triều đình có thái độ ngược lại với nhân dân , dựa vào Pháp , cầu hòa Pháp ..điều đó thể hiện sai
  15. lầm của nhà Nguyễn : Chống lại ND và từng bước bước đầu hàng Pháp . Tuy nhiên khi Pháp XL có 1 số quan lại triều đình có tinh thần yêu nước nêu có tinh thần chống Pháp như Tôn thất thuyết, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu.... + Việc TDP XLVN, tìm kiếm thị trường thuộc địa là tất yếu . Nhưng việc VN mất nước thì không phải là tất yếu mà do trách nhiệm chủ quan của triều đình PK nhà Nguyễn đã để mất nước ta . Nhưng ND ta không chịu khuất phục đã dồn kẻ thù vào tình thế bế tắc. 12: Vì sao khẳng định từ năm 1858 đến năm 1884 là quá triều đình Huế đi từ đầu hàng từng bước đến đầu hàng hoàn toàn trước sự XL của TDP • Bước 1: Trước sự XL của TDP nhà Nguyễn có tổ chức KC để bảo vệ lãnh thổ TQ +Năm 1858 , khi Pháp nổ súng tấn công ĐN, triều đình đã cử NTP làm tổng chỉ huy mặt trận Quảng Nam , cùng với ND, quân triều đình đắp thành lũy , thực hiện “Vườn không nhà trống”, bao vây giam chân địch suốt 5 tháng , làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của chúng + Năm 1859 , khi Pháp đánh Gia Định , NTP được cử vào mặt trận Gia Định , Ông huy động lực lượng XD hệ thống phòng thủ kiên cố + Năm 1873 và năm 1882, khi pháp đánh BK , triều đình đã cử NTP và Hoàng Diệu làm tổng Đốc bảo vệ thành HN + Tuy nhiên triều đình nhà Nguyễn không có khả năng và ý muốn, tập hợp, đoàn kết , tổ chức , lãnh đạo ND kháng chiến mà ngược lại còn bỏ rơi , xa rời cuộc KC của Ndta . • Bước 2: Nhà Nguyễn từ đầu hàng từng bước đến đầu hàng hoàn toàn TDP +Trong quá trình KC, do triều đình “thủ hiểm”, thiếu đường lối , thiếu quyết tâm , sự thất bại liên tiếp trong chiến đấu khiến quan quân triều đình nản chí , thiếu tin tưởng , lúng túng rồi đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác , cuối cùng là đầu hàng hoàn toàn tDP + Năm 1862, sau khi để mất 3 tỉnh miền Đông nam Kỳ và Vĩnh Long , triều đình nhà Nguyễn không tấn công để giành lại đất mà ký với pháp hiệp ước Nhân tuất ( 1862) với các
  16. điều khoản nặng nề , với hiệp ước này , chủ quyền dân tộc bị vi phạm , tạo điều kiện cho Pháp có cơ hội thực hiện dã tâm XL toàn bộ nước ta . + Sau đó triều đình càng đi sau vào con đường đối lập vơi ND : Một mặt đàn áp PT đấu tranh của ND BK và trung Kỳ , Mặt khác ngăn cản PT ĐT ở Nam Kỳ , chủ trương thương lượng với Pháp nhằm đòi lại 3 tỉnh miền Đông nhưng thất bại. Chính sự nhu nhược của triều đình đã để pháp chiếm 3 tỉnh miền tây Nam Kỳ chỉ trong 1 ngày mà không tốn 1 viên đạn +Sau khi mất 6 tỉnh Nam kỳ, mà nhà nguyễn vẫn không tỉnh ngộ trước âm mưu XL của TDP , vẫn tin vào thương thuyết nên để cho pháp ra Bắc Kỳ giải quyết vụ Đuy Puy, việc này đã tạo ĐK cho Pháp đánh chiếm BK +Năm 1873, Pháp đánh chiếm BK lần thứ nhất , bất chấp thái độ triều đình ND các tỉnh BK đã KC làm nên chiến thắng cầu Giấy lần thứ nhất , giết chết Gac ni ê và làm cho pháp hoang mang lo sợ , nhà Nguyễn không nhân cơ hội này đánh Pháp mà còn ký với Pháp hiệp ước Giáp Tuất (1874), thừa nhận chủ quyền của Pháp ở 6 tỉnh Nam Kỳ , với hiệp ước này , VN đã mất 1 phần quan trọng ĐL chủ quyền . + Năm 1882, Pháp đánh chiếm BK lần thứ 2, ND BK tiếp tục kC và làm nên chiến thắng Cầu Giấy lần thứ 2 , Ri vi e cũng phải bỏ mạng , lúc dó Tự Đức qua đời , Pháp chiếm thời cơ đánh chiếm Thuận An , uy hiếp nhà Nguyễn , triều đình ký hiệp ước Hác Măng (1883) và Pa tơ nốt ( 1884) . với 2 hiệp ước này , sự “bảo hộ” của Pháp được xác lập trên toàn bộ nước ta , chấm dứt sự tồn tại của nhà nước PK VN với tư cách là 1 nước ĐL . KL: Như vậy, qua những hiệp ước trên , ta thấy triều đình Huế từ chổ cắt từng bộ phận lãnh thổ cho Pháp rồi đi đến thừa nhận sự thống trị của Pháp trên toàn bộ lãnh thổ nước ta . 13 : Bình luận nhận định “TDP XLVN là 1 điều tất yếu , nhưng VN rơi vào tay Pháp là hoàn toàn không tất yếu” * Khẳng định: Nhận định trên là đúng đắn, đánh giá đúng vai trò nhân tố khách quan và chủ quan trong sự phát triển của sự kiện lịch sử. 1. Thực dân Pháp xâm lược Việt nam là một điều tất yếu: - Chủ nghĩa tư bản đang tiến lên giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. - Nhiều nước trong khu vực (trừ Nhật Bản) đã trở thành thuộc địa của CNTD, trong bối cảnh đó Việt Nam không tránh khỏi nguy cơ bị nhòm ngó.
  17. - Việt Nam giữa thế kỉ XIX là quốc gia phong kiến lạc hậu, điều kiện vị trí thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú......=> có những điều kiện mà đế quốc đang cần. - Ngay từ thế kỉ XVII nhiều giáo sĩ phương Tây, thương nhân Pháp, Tây Ban Nha đến Việt Nam truyền đạo, buôn bán, và chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược - Giữa thế kỉ XIX mâu thuẫn Anh - Pháp dịu bớt, Pháp quyết định đem quân đánh chiếm Việt Nam. - Trong khi Việt Nam đang khủng hoảng sâu sắc, nhà Nguyễn không chịu canh tân đất nước lại thực hiện chính sách đối ngoại sai lầm..... => Thực dân Pháp đã chớp cơ hội thực hiện mưu đồ biến Việt Nam thành thuộc địa. hành động này mang tính tất yếu. 2. Việt Nam rơi vào tay Pháp hoàn toàn không tất yếu - Từ việc bị xâm lược đến mất nước là khoảng cách khá xa , bị xâm lược có thể tất yếu nhưng mất nước không phải là tất yếu, vì đất nước có bị mất hay không là yếu tố chủ quan. - Trong lịch sử giữ nước, rất nhiều cuộc kháng chiến đã thành công bảo vệ nền độc lập dân tộc... Nhìn ra bên ngoài, cùng hoàn cảnh đó Nhật Bản giữ vững nền độc lập.... - Bối cảnh lịch sử giữa thế kỉ XIX đã đặt triều Nguyễn trước hai con đường phải lựa chọn: bảo thủ hay cải cách. Nhà Nguyễn đã lựa chọn đường lối bảo thủ, không canh tân đất nước nên việc mất nước từ chỗ không tất yếu trở thành tất yếu. Trách nhiệm đó thuộc về nhà Nguyễn. 14: Nhận xét về phong trào kháng chiến chống pháp(1858- 1873) * Mở : Phong trào KC chống Pháp XL diễn ra từ năm 1858-1873 diễn ra kịp thời, mạnh mẽ, quyết liệt, bền bỉ với tinh thần « người trước ngã xuống, người sau đứng lên », trong đó phong trào kháng chiến của nhân dân các tỉnh Nam Kì dấy lên từ 3 tỉnh miền Đông rồi nhanh chóng lan rộng ra 6 tỉnh Nam Kỳ 1. Chiến đấu kịp thời: chiến đấu ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân lên bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) đến khi nhà Nguyễn bị khuất phục hoàn toàn. Nhân dân ta có ý thức bảo vệ nền độc lập của dân tộc rất cao 2. Xác định đúng kẻ thù dân tộc: nhân dân tự xác định đâu là bạn, đâu là thù, khi Tổ quốc lâm nguy, họ đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết. Nhân dân ta đã tạm gác mối thù giai cấp để đứng dưới ngọn cờ của triều đình chống Pháp, đặt mối thù dân tộc lên trên tất cả. 3. Tinh thần chiến đấu dũng cảm: Nhân dân ta kháng chiến không đòi hỏi bất cứ cứ điều kiện gì, không đợi triều đình ban chức tước, ban thưởng, mà họ chiến đấu vì nghĩa lớn: bảo vệ cuộc sống bình yên, bảo vệ quê hương đất nước . 4. Chiến đấu mưu trí, sang tạo với nhiều hình thức phong phú: du kích, tập kích, phục kích, phát huy truyền thống thủy chiến, pháo thuyền. Nhân dân ở các tỉnh miền Đông Nam Kỳ tin tưởng theo ngọn cờ “Bình Tây Đại nguyên soái”, làm cho bè lũ cướp nước và bán nước phải khiếp sợ.
  18. 5. Lực lượng: Phong trào đã thu hút sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân, với những hình thức đấu tranh phong phú, song chủ yếu là đấu tranh vũ trang chống Pháp. 6. Kết quả: Các cuộc khởi nghĩa đều thất bại do triều đình từng bước đầu hàng Pháp, so sánh lực lượng giữa ta và địch chênh lệch. Trong quá trình thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, phong trào kháng chiến nổ ra lẻ tẻ, cục bộ, chưa có sự liên kết giữa các lực lượng và các địa phương .Tuy nhiên, phong trào chỉ tạm thời lắng xuống chứ không chấm dứt. Phong trào vẫn tiếp diễn kéo dài làm cho Pháp gặp nhiều khó khăn. 7. Ý nghĩa: ( khi hết thời gian thì ghi 2 ý này) +Cuộc KC chống TDP XL của ND ta diễn ra sôi nổi , quyết liệt, thể hiện tinh thần yêu nước nòng nàn , chí căm thù giặc sâu sắc. +Mặc dù thất bại , nhưng để lại nhiều bài học kinh nghiệm quí báu, là cội nguồn nuôi dưỡng tinh thần bất khuất của ông cha ta, từ đó được nhân lên gấp bội trong sự nghiệp giải phóng dân tộc . 15. Vì sao từ sau năm 1874, TDP lại quyết tâm chiếm bằng được BK ?Thái độ và hành động của nhà nguyễn khi pháp đánh chiến BK lần thứ nhất và lần thứ 2: * Bước 1: P quyết tâm đánh BK vì : +Từ những năm 70 của TK XIX, CNTB pháp bước sang giai đoạn CNĐQ, nền KT pháp có những đòi hỏi ngày càng lớn về thị trường, nhân công và nguyên liệu . TDP đã lao vào cuộc chạy đua quyết liệt để giành giật thuộc địa + Việc xâm chiếm BK và toàn bộ VN lúc này không còn là mưu đồ cuar1 nhóm thực dân hiếu chiến mà trở thành chủ trương chung của giới tư bản tài phiệt đang nắm quyền ở Pháp + Đối với Pháp : BK là nơi đông dân , nhiều tài nguyên , nhất là than đá, là miếng mồi ngon không thể bỏ qua • Bước 2: Thái độ và hành động nhà Nguyễn khi đánh chiếm BK lần 1 và lần 2 +Trong QTXLVN( 1858-1884), pháp đã 2 lần đánh chiến BK -Lần 1: Quân Pháp do Gác Ni ê chỉ huy đánh chiếm BK lần 1 -Lần 2: Quân Pháp do Ri vi e chỉ huy đánh chiếm BK lần 2 -Khi Pháp đánh chiếm BK lần thứ nhất , thái độ và hành động của nhà Nguyễn là : +Trước thái độ ngang ngược của Gác ni ê, NTP cùng các quan lại ở HN lúng túng bị động ngồi chờ lệnh .. triều đình đối phó chậm chạp, yếu ớt . Mặc dù NTP vẫn tổ chức quân sỹ chiến đấu quyết liệt nhưng cuối cùng vẫn thất bại . sau khi để mất thành HN, triều dình tỏ ra hoang mang dao động . đó là cơ hội để Pháp mở rộng phạm vi chiếm đống BK +Cuộc KC của ND BK khiến cho Pháp hoảng sợ , đặc biệt là chiến thắng cầu giấy ( 1873) tạo ra cơ hôi đánh thắng giặc Pháp , nhưng triều đình đã không tận dụng cơ hội này để chống lại Pháp mà chủ trương hòa với P ký hiệp ước Giáp Tuất ( 1874) • Khi TDP tiến đánh HN và các tỉnh BK lần 2 , thái độ và hành động của Nhà Nguyễn là : + Ngày 3-4-1882, Ri vi e chỉ huy 1 đạo quân Pháp từ SG kéo ra HN, sau khi giở trò khiêu khích , chúng nổ súng đánh thành 25-4-1882, Hoàng Diêu chỉ huy quân sỹ kiên quyết chống cự nhưng cuối cùng bị thất bại + Triều đình tiếp tục hoang mang và bất lực , vội vàng cầu cứu nhà Thanh , nhà Thanh đưa quân sang nước ta đóng quân rải rác 1 số nơi và bí mật thương thuyết với P để chia nhau quyền lợi ở VN
  19. + Khi Pháp đánh chiến được HN, chúng mở rộng phạm vi chiếm các tỉnh BK nhưng đi đến đâu chúng cũng vấp phải sức chiến đấu của quân dân địa phương. Ngày 19-5-1883, quân ta giành chiến thắng cầu giấy lần thứ 2 , giáng cho địch 1 đòn nặng nề , giết chết tên chỉ huy Ri Vi e + Chiến thắng cầu Giấy lần thứ 2 thể hiện rõ ý chí quyế tâm sẵn sàng tiêu diệt giặc của ND ta . Tuy nhiên , triều đình Huế vẫn nuôi ảo tưởng thu hồi Hà Nội bằng con đường thương thuyết nên đã bỏ lỡ cơ hội đánh thắng Pháp 16: So sánh 2 thái độ , 2 kiểu hành động của ND và triều đình Huế trước sự XL của TDP a. Thái độ : * ND: Kiên quyết chống XL ngay từ khi pháp nổ súng XL nước ta - kiên quyết chống trả địch tấn công ĐN, GĐ, các tỉnh Nam kỳ và Bắc kỳ * Triều đình Huế : - Không kiên quyết động viên ND chống Pháp . Bỏ lỡ thời cơ để hành động - Nhu nhược, ươn hèn, ích kỷ vì quyền lợi của dòng họ bán rẻ DT b. Hành động : + Ở Gia định và các tỉnh Nam Kỳ : * ND anh dũng chống trả tại ĐN , làm thất bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của địch * Nhiều cuộc KN nổ ra quyết liệt chống sự mở rộng chiếm đóng của TDP và chóng sự nhu nhược của triều đình -Nghĩa quân NTT đánh chìm tàu Ét Pê răng ( hy vọng ) trên sông vàm Cỏ Đông vào ngày 10-12-1861. -KN do Trương Định lãnh đạo đánh cho địch thất điên bát đảo. -PT “Tị địa”- bất hợp tác với giặc diễn ra rất sôi nổi , -2 anh em Pha Tôn, Phan Liêm chỉ huy nghĩa quân hoạt động ở Bến Tre, Vĩnh Long , Sa đéc trong 2 năm (1867- 1868) -Nguyễn Hữu Huân 2 lần bị giặc bắt được thả ra ông tiếp tục kháng chiến . -Nghĩa quân NTT đánh chiếm và làm chủ Rạch giá ( 6-1867); -KN của Trương Quyền ở Tây Ninh -ĐT của các nho sỹ : Nhiều người dùng văn thơ làm vũ khí chống Pháp như Nguyễn Đình Chiểu , Phan Văn Trị . + Ở Bắc kỳ : + Lưu Vĩnh Phúc và Hoàng Tá Viêm chỉ huy quân phục kích tại cầu giấy giết chết Gác ni ê vào ngày 21-12- 1873 và Ri vi e vào ngày 19-5-1883. 2 chiến tháng cầu giấy làm nức lòng ND cả nước. • Hành động của triều Đình : *Triều đình bỏ lỡ thời cơ khi địch đánh Gia Định, ký hiệp ước Nhâm Tuất ( 1862) để mất 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ *Triều đình để mất 3 tỉnh miền tây (1867). Đàn áp PT ĐT của ND cắt 6 tỉnh cho Pháp * Triều đình thương thuyết với pháp , ký hiệp ước Giáp tuất ( 1874) , cắt 6 tỉnh cho Pháp . * Ký với Pháp Hiệp ước HM ( 1883) và hiệp ước Pa Tơ nốt ( 1884) .. +KL: Như vây, thái độ của triều đình nhà Nguyễn và ND ta có sự khác nhau : Nhà nguyễn không kiên quyết chống giặc vì quyền lợi của dòng họ nên từng bước nhân nhượng và đầu hàng pháp . ND ta không chịu khuất phục , kiên quyết chống giặc ngay từ đầu , cuộc chiến đấu của ND ta diễn ra liên tục rộng khắp và quyết liệt .
  20. 17: Hoàn cảnh, nội dung , hậu quả của 4 bản hiệp ước mà triều đìnhnhà nguyễn đã ký với Pháp . ( Tự học ) 18. vì sao triều Đình Huế ký hiệp ước giáp Tuất ( 1874). Nêu nhận xét về hiệp ước 1874 so với hiệp ước Nhâm Tuất ( 1862). + Hiệp ước giáp Tuất xuất phát từ ý thức bảo vệ quyền lợi của giai cấp và dòng họ triều đình Huế . Đây là sự tính toán thiếu cẩn trọng, khiến triều đình huế trượt dài trên con đường đi đến đầu hàng hoàn toàn , chủ quyền DT bị xâm phạm nhiều hơn , tạo Đk để pháp thực hiện những âm mưu XL tiếp theo + So với hiệp ước Nhâm Tuất ( 1862), Hiệp ước GT ( 1874), khiến nước ta mất thêm 3 tỉnh Nam Kỳ , mất thêm 1 phần quan trọng chủ quyền lãnh thổ , ngoại giao và thương Mại . 19. Điểm giống và khác nhau giữa hiệp ước Hác Măng ( 1883)và Hiệp ước Pa- Tơ nốt ( 1884) a. Giống nhau : 2 ý - Đều thừa nhận quyền “ bảo hộ”của TDP ở Bắc Kỳ và Trung kỳ - Đều thể hiện thai độ của triều nguyễn biến sự mất nước không tất yếu trở thành tất yếu b.Khác nhau : 2 ý + Hiệp ước Hác Măng : Khu vực cai quản của triều đình Huế bị thu hẹp từ khánh Hòa đến đèo ngang + Hiệp ước Pa Tơ nốt : Khu vực cai quản của triều đình Huế được mở rộng đến Bình Thuận và Thanh – Nghệ Tĩnh . Đây là âm mưu xoa dịu sự căm phẫn của ND C. nhận xét : 3 ý . + 2 hiệp ước này đặt cơ sở lâu dài cho quyền đô hộ của Pháp ở VN + 2 hiệp ước này đã chia VN thành 3 miền với 3 chế độ cai trị khác nhau , đó là điểm chính trong chính sách “chia để trị” của TDP . + Nhà nước PKVN, với tư cách là 1 nhà nước ĐL có chủ quyền đã sụp đổ hoàn toàn . Nước VN hoàn toàn trở thành thuộc địa của TDP . 2. Nhận xét 4 bản hiệp ước . a. Hiệp ước Nhâm Tuất ( 5-6-1862): Đây là hiệp ước cắt đất cầu hòa đầu tiên của TĐH + Đi ngược lại với ý chí và nguyện vọng cuả ND , vi phạm nghiêm trọng đến chủ quyền DT, tạo ĐK cho Pháp có cơ hội thực hiện dã tâm XL toàn bộ nước ta b. Hiệp ước Giát Tuất ( 15-3-1874): Tính chất bán nước và cướp nước ngày càng được thể hiện rõ ràng thông qua hiệp ước .Đất đai bị chiếm nhiều hơn , chủ quyền DT ngày càng bị vi phạm nghiêm trọng , nội trị ngoại giao ngày càng bị lệ thuộc . c. hiệp ước Hác Măng ( 1883)và Hiệp ước Pa- Tơ nốt ( 1884): + 2 hiệp ước này đặt cơ sở lâu dài cho quyền đô hộ của Pháp ở VN + 2 hiệp ước này đã chia VN thành 3 miền với 3 chế độ cai trị khác nhau , đó là điểm chính trong chính sách “chia để trị” của TDP + Nhà nước PKVN, với tư cách là 1 nhà nước ĐL có chủ quyền đã sụp đổ hoàn toàn . Nước VN hoàn toàn trở thành thuộc địa của TDP .